Hiển thị các bài đăng có nhãn O. Henry. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn O. Henry. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2024

VIÊN BÁ TƯỚC VÀ VỊ KHÁCH MỜI ĐÁM CƯỚI - O. Henry

 

Một buổi tối khi Andy Donovan đi ăn tối tại nhà nấu cơm tháng trên Đại lộ Hai thì bà Scott giới thiệu anh với một người trọ mới, một thiếu nữ có tên là Conway. Cô Conway người nhỏ nhắn và kín đáo. Cô mặc một bộ váy màu nâu vàng đậm, vải trơn, và cô tỏ ra hứng thú nhưng dường như uể oải nhìn đĩa thức ăn của mình. Cô e thẹn ngước mắt, phóng tầm mắt một cách dò hỏi sâu xa nhìn Donovan, thì thầm tên anh ta một cách lịch sự và lại quay về món thịt cừu của mình. Donovan cúi đầu chào đáp lại bằng cái liếc nhìn và một nụ cười rạng rỡ, một nụ cười đã giúp anh ta nhanh chóng giành được sự thăng tiến về chính trị, làm ăn buôn bán và xã hội đã khiến anh ta quên ngay cô gái trong bộ váy màu nâu vàng kia khỏi danh sách những người nằm trong sổ ghi chép mà anh ta chú ý đến.

Hai tuần sau, lúc Andy đang ngồi trên thềm trước nhà tận hưởng điếu xì gà thì có tiếng sột soạt khe khẽ đằng sau lưng và phía trên đầu khiến cho Andy quay người lại, mà ước gì đầu anh ta quay lại được.

Ngay lúc đó cô Conway đang đi ra khỏi nhà. Cô mặc một bộ váy vải nhiễu đen láy, một thứ vải đen mỏng tang. Mũ cô ta đội cũng màu đen, có che một tấm mạng đen như gỗ mun mỏng tang như mạng nhện rủ xuống, phất phơ bay. Cô ta đứng ở bậc thềm trên cùng và tay đeo đôi găng lụa đen. Trên khắp bộ váy không thấy có lấy một vết trắng hoặc màu sắc nào khác. Mái tóc vàng óng của cô hầu như không có lấy một làn sóng được búi thành một nắm mượt óng thả thấp xuống tận cổ. Mặt cô ta trông bình thường, chứ chưa nói là không đẹp, thế mà lúc này đôi mắt xám to của cô ta đã làm cho cô ta thêm rạng rỡ, đến là đẹp nhìn chăm chú qua các ngôi nhà bên kia phố lên bầu trời, nét mặt sao mà u buồn.

Các cô cứ nghĩ mà xem, toàn màu đen, cô nàng thích nhiễu hơn, mà là nhiễu Trung Hoa, chỉ vậy thôi. Hết thảy màu đen, với cái nhìn xa xăm, u buồn đó, bộ tóc óng mượt dưới tấm mạng màu đen (dĩ nhiên các cô hẳn phải có bộ tóc màu vàng nhạt chứ) và dẫu cho cuộc đời tươi trẻ của các cô có tàn úa cứ như sắp phải tập nhảy từng bước, lúc đầu là lò cò, rồi nhảy bước một và cuối cùng nhảy phắt qua ngưỡng cửa của cuộc đời thì các cô cũng cố trông ra dáng như là mình đang đi trong công viên, mà phải dám chắc là mình xuất hiện bên ngoài nhà đúng lúc, ồ mà lần nào cũng thấy họ như thế cả. Nhưng giờ đây mà đi bàn đến những bộ đồ tang như thế này thì có phải tôi là người độc ác quá không?

Anh chàng Donovan bỗng nhiên lại viết tên cô Conway lên những danh mục để mình xem xét. Anh ta vứt mẩu thuốc xì gà còn lại đi, mà nhẽ ra có hút cũng còn được đến tám phút nữa mới hết, rồi nhanh chóng chuyển trung tâm hấp dẫn sang đôi giày da sơn thấp cổ.

- Buổi tối hôm nay trời trong vắt, đẹp quá cô Conway nhỉ – anh chàng nói. Nếu như Ban Dự Báo Thời Tiết mà nghe thấy giọng đầy quả quyết của anh ta thì chắc họ đã cho giương cả một tấm biển trắng vuông vức và đóng vào cột buồm, chứng tỏ mình chịu thua rồi.

- Họ còn có lòng để mà thưởng thức, anh Donovan ạ – cô Conway nói, miệng thở dài.

Thật ra trong thâm tâm anh Donovan lại nguyền rủa thời tiết đẹp đó. Thời tiết sao mà độc ác làm vậy! Nhẽ ra nó phải đổ mưa đá, gió thổi mạnh và tuyết rơi để hòa vào với tâm trạng của cô Conway chứ.

- Tôi mong đó không phải là người nhà của cô… Tôi hy vọng là cô không phải gánh chịu sự mất mát nào, có đúng không nào? – Anh chàng Donovan liều lĩnh hỏi.

- Cái chết đã lấy đi – cô Conway ngập ngừng nói – không phải là người bà con, mà là một người, mà thôi, ai lại bắt anh phải gánh chịu nỗi đau khổ của em cơ chứ, anh Donovan ạ.

- Bắt tôi gánh chịu á? – Donovan cãi lại – Sao lại nói thế hả cô Conway. Tôi sẽ lấy làm mừng, à mà lấy làm tiếc… Ý tôi muốn nói là không có ai có thể cảm thông với em chân thành hơn tôi được.

Cô Conway hé nở nụ cười. Ôi, cười gì mà trông còn buồn khổ hơn là nét mặt lúc thanh thản của cô.

- “Khi ta cười, thế gian sẽ cười với ta; khi ta khóc thì thế gian sẽ cho ta tiếng cười” – Cô ta đã trích dẫn lời hay ý đẹp – Anh Donovan ạ, em biết điều đó chứ. Em không có bạn bè hay người quen ở thành phố này. Nhưng anh tốt với em quá. Em rất trân trọng điều đó.

Anh ta đưa hạt tiêu cho cô Conway hai lần trên bàn ăn.

- Sống một mình ở thành phố New York là vất vả lắm… Vất vả thật đấy – Donovan nói – Nhưng mà… cứ khi nào cái thành phố nhỏ cổ lỗ này mà trở nên phấn chấn và thân thiện thì cứ gọi là không có giới hạn đâu. Giả dụ nếu cô đi dạo một chút trong công viên, cô Conway ạ, chắc có lẽ cô cũng nguôi ngoai một phần nào, cô có cho là vậy không? Nếu cô cho phép thì tôi…

- Xin cảm ơn anh Donovan. Anh không cho rằng đi cùng với một người lòng buồn nặng trĩu là ngán lắm thì tôi sẽ rất vui được nhận lời chào mời đó.

Hai người đi qua những chiếc cổng để ngỏ của công viên, nơi mà người được lựa chọn đã từng đi dạo mát, nằm ở khu kinh doanh trong thành phố, cổ kính, có ngăn bằng lan can sắt và tìm một chiếc ghế dài yên tĩnh ngồi.

Đây có sự khác biệt giữa sự khổ đau của tuổi thanh niên và sự khổ đau của tuổi già; gánh nặng của tuổi trẻ sẽ được vơi đi nhiều khi có những người khác sẻ chia; người già chỉ biết có cho và cho mà thôi, nhưng nỗi sầu muộn vẫn còn nguyên đó.

“Anh ấy là người chồng chưa cưới của tôi – Cuối cùng thì Conway cũng thổ lộ tâm tình vào cuối giờ – Chúng tôi chuẩn bị sẽ làm đám cưới vào mùa xuân tới. Tôi không muốn anh nghĩ rằng tôi đang đánh lừa anh đâu, anh Donovan ạ, nhưng anh ấy thật sự là một Bá tước. Anh ấy có một cơ ngơi lớn và một lâu đài ở Italia. Tên anh ấy là Bá tước Fernando Mazzini. Tôi chưa bao giờ thấy có ai hơn anh ấy về mặt thanh lịch. Dĩ nhiên bố anh ấy phản đối và có lần chúng tôi đã bỏ trốn, nhưng ông ấy đã đuổi kịp chúng tôi và đưa chúng tôi về. Tôi cứ lo thể nào giữa hai bố con cũng choảng nhau một trận. Anh biết đấy, ông bố có công việc làm ăn khấm khá ở P’kipsee.

Cuối cùng ông bố thay đổi hẳn ý định, thế là ổn, và ông nói chúng tôi có thể lấy nhau vào mùa xuân tới. Fernando chứng minh cho ông bố thấy danh tước và của cải của mình và sau đó anh ấy đi Italia để cho người sửa sang lại tòa lâu đài dành cho chúng tôi. Ông bố rất tự hào, nhưng khi Fernando muốn cho tôi mấy ngàn đô la để mua đồ tư trang của cô dâu thì ông bố lại mắng anh ấy là đồ ngớ ngẩn. Thậm chí ông ấy còn không cho tôi được nhận bất cứ cái gì, dù là một cái nhẫn hoặc một tặng phẩm nào từ anh ấy. Rồi khi Fernando lên thuyền đi thì tôi đi đến một thành phố và kiếm một việc làm thủ quỹ trong một cửa hàng bánh kẹo.

Cách đây ba ngày tôi nhận được một lá thư từ Italia, từ P’kipsee, thông báo rằng Fernando đã bị giết chết trong một tai nạn thuyền gondola 1 .

Chính vì thế tôi mới để tang. Anh Donovan ạ, trái tim tôi sẽ mãi mãi nằm bên trong mộ anh ấy. Tôi nghĩ mình kém xã giao lắm, anh Donovan ạ, nên tôi không sao còn có hứng thú kết bạn với ai được nữa. Tôi không muốn ngăn cách niềm vui của anh và bạn bè anh, những người luôn mỉm cười và làm cho anh vui. Chắc anh muốn đi về nhà phải không?”

Chà, các cô gái, các cô mà có muốn quan sát một anh chàng nào đó hăm hở chạy ra với cái cuốc chim và cái xẻng trong tay thì chỉ việc nói cho anh ta hay rằng trái tim của các cô nằm trong mồ của người khác rồi nhé. Bản chất các anh chàng thanh niên đó là những kẻ đào mả để ăn trộm. Cứ đi hỏi bất cứ một người đàn bà góa nào mà xem. Cần phải hành động để lấy lại bộ phận bị thất lạc đó và trả cho các thiên thần đang khóc sướt mướt trong bộ áo tang nhiễu đen. Những người chết chắc hẳn phải gánh chịu phần tồi tệ nhất từ mọi phía.

- Tôi vô cùng xin lỗi cô – Donovan nói khẽ – Không, chúng mình đừng quay về nhà vội. Cô không nói là cô không có bạn bè ở trong thành phố này đấy chứ, hả cô Conway. Tôi rất tiếc và tôi mong cô tin rằng tôi là người bạn của cô, điều này tôi thấy thật đáng tiếc.

- Tôi có mang theo ảnh của anh ấy trong túi đây – Cô Conway nói sau khi lấy khăn lau nước mắt – Tôi chưa từng cho ai xem đâu đấy, nhưng tôi sẽ cho anh xem, anh Donovan ạ, vì tôi tin anh sẽ là người bạn chân thành của tôi.

Anh chàng Donovan chăm chú nhìn và tỏ ra hứng thú thấy cô Conway mở hộp đựng vật kỷ niệm và lấy bức ảnh ra cho anh ta xem. Đó là một khuôn mặt nhẵn nhụi, thông minh, sáng láng và có phần đẹp trai, một khuôn mặt của một người vui tính và khỏe mạnh, là người chắc hẳn phải đứng đầu đám bạn bè của mình.

- Tôi có một bức khác to hơn, đóng trong khung, để ở trong phòng của tôi – Cô Conway nói – Lúc nào quay về, tôi sẽ đưa cho anh xem. Tất cả những bức hình đó làm cho nhớ đến Fernando. Nhưng chắc chắn là anh ấy mãi mãi trong tim tôi.

Một nhiệm vụ tế nhị mà Donovan phải đối mặt là làm thế nào thay thế vị Bá tước kia trong trái tim của cô Conway. Chính sự ngưỡng mộ của anh ta đối với cô ấy đã khiến cho anh ta thêm quyết tâm làm điều đó và nhiệm vụ nặng nề đó dường như không hề gây bức xúc đối với tinh thần của anh ta. Người bạn đầy thiện cảm nhưng vui tính chính là vai mà anh ta đã cố gắng đóng thử; và anh ta đã đóng thành công đến mức nửa giờ tiếp theo đó người ta thấy hai người nói chuyện với nhau một cách trầm tư bên cốc kem, dẫu cho nét buồn bã trong đôi mắt xám to của cô Conway vẫn chưa giảm đi chút nào.

Trước lúc hai người chia tay nhau trong phòng đại sảnh vào chiều tối hôm đó, cô Conway chạy vội lên gác và mang xuống một chiếc ảnh có đóng khung được gói thật trang trọng trong chiếc khăn lụa trắng. Anh Donovan ngắm nghía với con mắt dò xét kỹ lưỡng.

- Anh ấy đưa cho tôi vào đúng cái đêm anh ấy đi Italia – Cô Conway nói – Chiếc ảnh mà tôi để trong hộp nọ là tôi sao từ bức ảnh này đấy.

- Trông anh ta đẹp trai lắm – Anh Donovan vui vẻ nói – Cô Conway này, tôi rất lấy làm vui được đi cùng cô đến đảo Coney vào chiều Chủ Nhật sau, cô thấy có thích hợp không?

Một tháng sau họ tuyên bố đính hôn với bà Scott và những người ở trọ khác. Cô Conway tiếp tục mặc đồ đen.

Một tuần sau tuyên bố đó, hai người ngồi trên cùng chiếc ghế trong công viên, trong khi đó lá đung đưa hắt hình bóng mờ mờ ảo ảo của họ trong ánh trăng. Nhưng suốt cả ngày hôm đó Donovan mang vẻ mặt buồn khổ, lơ đãng. Tối nay anh ta im tiếng đến nỗi đôi môi của tình yêu không thể nào giữ mãi được câu hỏi thắc mắc mà trái tim của tình yêu đã đặt ra.

- Có chuyện gì vậy, Andy? Đêm nay anh trông nghiêm nghị và mặt mày cứ nhăn nhó thế?

- Chẳng có chuyện gì cả, Maggie ạ.

- Phải có chuyện chứ. Em không biết được sao? Trước đây có bao giờ anh hành động như thế đâu. Chuyện gì vậy anh?

- Cũng chẳng có chuyện gì nhiều lắm, Maggie ạ.

- Đúng thế, nhưng em vẫn cứ muốn biết. Em đánh cược là anh đang nghĩ đến một cô gái khác. Được thôi. Thế tại sao anh không đi đến với cô ấy nếu anh cần cô ấy. Xin anh bỏ tay ra cho.

- Vậy thì anh sẽ nói cho em hay – Andy nói một cách khôn ngoan – nhưng anh nghĩ em không thể hiểu một cách chính xác được. Em có nghe nói đến Mike Sullivan phải không? Mike Sullivan “To Bự” ấy mà, mọi người gọi anh ta thế.

- Không, em không nghe nói đến, mà em cũng không muốn nghe nếu như anh ta làm cho anh hành động như thế này. Anh ta là ai? – Maggie nói.

- Anh ta là người to lớn nhất thành phố New York này – Andy nói, gần như kính phục – Anh ấy có thể làm bất cứ điều gì mà mình muốn với Tổ chức Tammany 2 hay bất cứ tổ chức cũ rích nào trong phe phái chính trị. Anh ta to lớn, râu hùm hàm én. Ai mà nói điều gì chống lại anh Mike To Lớn thì chỉ trong nháy mắt đã có đến hàng triệu con người chạy đến bóp cổ anh ta ngay. Hừm, thế mà anh ta cách đây không lâu đã đến thăm cựu quốc và các ông vua đã lủi trốn vào hang như một lũ thỏ đấy.

Đúng thế, anh Mike To Lớn là một người bạn của anh. Anh thì có ảnh hưởng gì trong cái quận này đâu, nhưng anh Mike là người bạn tốt đối với những ai nhỏ bé hoặc nghèo khổ, cũng như đối với ai to lớn. Hôm nay anh gặp anh ấy ở Phố Bowery 3 . Em có biết là anh ta đã làm gì không? Anh ta đứng dậy và đi lại bắt tay anh. “Xin chào Andy. Tôi vẫn đang theo dõi cậu đấy. Cậu đang chỉ huy ở bên khu phố của cậu tốt lắm và tôi tự hào về cậu. Thế nào, uống tí gì chứ?” Anh ta hút xì gà, còn anh uống rượu. Anh khoe với anh ta là anh sẽ lấy vợ trong hai tuần lễ nữa. “Andy, hãy gửi giấy mời cho tôi để tôi còn nhớ và đi dự đám cưới chứ”, anh ta nói. Đấy, anh Mike To Lớn nói với anh như vậy đấy và anh ấy luôn nói là làm, em ạ.

Em không hiểu anh nói gì đâu, Maggie. Nhưng để có anh ấy đến dự đám cưới của chúng ta thì anh có mất đi một bàn tay cũng được. Đó sẽ là một ngày đáng tự hào nhất trong đời anh. Khi anh ấy mà đi dự đám cưới của ai thì chú rể nào mà chẳng thấy mình hãnh diện cả đời. Chính vì thế mà tối nay anh trông buồn thế.

- Thế sao anh không mời anh ấy nếu anh ấy nhiệt tình làm vậy? – Maggie nhẹ nhàng nói.

- Có lý do để anh không mời anh ấy – Andy buồn bã nói – Có lý do tại sao anh ấy không được có mặt ở đây. Em đừng hỏi anh đó là gì vì anh không thể nói cho em hay được.

- Ôi, em đâu có quan tâm – Maggie nói – Dĩ nhiên có gì đó liên quan đến chính trị, nhưng không vì lý do gì mà anh lại không vui vẻ với em cả.

- Maggie em – Andy nói liền lập tức – Em có nghĩ đến anh nhiều như em đã từng nghĩ đến người của em… như em nghĩ đến Bá tước Mazzini không?

Anh ta đợi một lúc lâu nhưng Maggie không đáp lại. Rồi bỗng nhiên cô ngả người vào vai anh ta và cất tiếng khóc, người rung lên khóc nức nở, nắm chặt lấy cánh tay anh ta, cả chiếc áo nhiễu đen ướt đầm đìa.

- Nào, thôi nào! – Andy dỗ, gạt bỏ sự khó chịu của mình sang một bên – Nào, có chuyện gì vậy em?

- Anh Andy – Maggie nức nở – Em nói dối anh đấy và anh sẽ không lấy em và cũng không còn yêu em nữa. Nhưng em cảm thấy là em cần phải nói cho anh rõ. Andy ơi, chẳng có vị bá tước nào trên đời này cả. Cuộc đời em chưa bao giờ có một người tình nào. Nhưng tất cả các cô gái khác đều có và họ nói về những người đó và điều đó làm cho những người tình của họ lại yêu họ hơn. Anh Andy ạ, em trông nổi bật trong bộ đồ đen, mà anh biết là em thế mà. Thế là em đi đến cửa hàng chụp ảnh và mua bức ảnh đó, rồi yêu cầu người ta làm thêm một bức nhỏ để em cất trong hộp, sau đó em bịa ra một câu chuyện về vị Bá tước nọ và về việc anh ta bị tai nạn chết, vì thế em mới mặc bộ đồ đen. Nhưng có ai ưa những kẻ nói dối đâu. Anh sẽ bỏ em và em sẽ chết vì xấu hổ mất. Ôi, em chưa bao giờ yêu ai trừ anh ra… thế thôi!

Thay vì là mình bị đẩy đi, cô Conway lại thấy Andy ôm chặt mình hơn. Cô ngước nhìn lên và thấy khuôn mặt anh ta mỉm cười rạng rỡ.

- Anh… anh thứ lỗi cho em chứ, Andy?

- Có chứ – Andy nói – Chẳng hề gì đâu. Trở lại nghĩa trang với vị Bá tước nọ. Em đã bộc bạch hết cả rồi, Maggie ạ. Lúc ở đó anh cứ hy vọng là em sẽ nói thật trước ngày cưới cơ. Em thật là một cô gái cứng đầu cứng cổ!

- Anh Andy – Maggie nói, nở một nụ cười có vẻ ngượng chút ít sau khi cô biết chắc là mình đã được thứ lỗi – thế lúc đó anh có tin mọi thứ về câu chuyện vị Bá tước đó không?

- Chà, không nhiều lắm – Andy nói, với tay lấy hộp đựng xì gà – bởi vì đó chính là bức ảnh về cái nhà anh Mike Sullivan To Lớn nọ mà em giữ trong cái hộp của em.

--------------------------------
1Thuyền gondola là loại du thuyền đáy bằng ở Venice, Italia.
2Xem chú thích trong truyện ngắn Maggie vào đời.
3Một phố ở Thành phố New York, nổi tiếng có khách sạn và quán bar rẻ tiền với những kẻ du đãng và say rượu thường hay lui tới.

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2024

TIỀN CHUỘC TÙ TRƯỞNG DA ĐỎ - O. Henry

 

 

Mọi việc trông như suôn sẻ. Nhưng hãy đợi đến khi tôi kể hết cho bạn nghe. Khi Bill Driscoll và chính tôi xuống miền Nam thuộc tiểu bang Alabama, thì ý nghĩ bắt cóc nảy ra trong đầu. Ở đó có một thị trấn hẹp như chiếc bánh kếp, tên là Summit. Bill và tôi có chừng sáu trăm đô la, chúng tôi chỉ cần thêm hai ngàn đô la nữa là đủ cho phi vụ mua bán đất chui ở Illinois.

 

Chúng tôi bắt đầu chọn nạn nhân, nhận ra duy nhất chỉ có một thằng nhóc, con của lão  Ebenezer Dorset là người có thế lực trong thị trấn. Thằng nhóc lên mười tuổi có mái tóc đỏ. Bill và tôi cho rằng lão Ebenezer sẽ phải trả hai ngàn đô la tiền chuộc để nhận thằng bé về. Nhưng hãy đợi đến khi tôi kể hết cho bạn nghe.

 

Cách thị trấn Summit chừng hai dặm có một ngọn núi nhỏ phủ đầy cây tuyết tùng. Phía sau ngọn núi có một lỗ hổng, chúng tôi giấu hành lý ở hang động đó.

 

Đêm nọ, chúng tôi đánh chiếc xe ngựa ngang qua nhà lão Dorest. Thằng nhóc đang ở trên phố, ném đá vào một con mèo trên hàng dậu đối diện. Bill nói:

 

- Này em bé! Em muốn có một túi kẹo và một cuộc dạo chơi tuyệt vời bằng xe ngựa không?

 

Thằng nhóc nhìn thẳng vào Bill bằng cặp mắt sắt đá, tinh thần sẵn sàng chiến đấu như một động vật hoang dã. Nhưng cuối cùng chúng tôi cũng dụ được thằng nhóc lên xe, đưa xuống ngồi ở dãy cuối rồi đánh xe chạy một mạch đến hang động. Thằng nhóc có hai chiếc lông chim to cài trên tóc. Nó đưa tay chỉ vào một chiếc cho tôi xem, rồi nói:

 

- Ha! Bọn da trắng. Các ngươi dám xông vào trại của tù trưởng da đỏ, khủng bố người da đỏ phải không?

 

Bill xăn chiếc quần dài của thằng nhóc lên, xem các vết thương trên đôi chân nó, rồi nói:

 

- Hiện giờ thằng nhóc khỏe mạnh. Chúng ta đóng vai người da đỏ. Ta là già Hank chuyên bẫy thú, bị tù trưởng da đỏ bắt giữ. Ta sắp bị lột da đầu lúc rạng đông!

 

Tôi nói với thằng nhóc:

 

- Này tù trưởng da đỏ, ngươi có muốn về nhà không?

 

Thằng nhóc hỏi:

 

- Ô, để làm gì? Ở nhà ta không có trò gì vui cả. Ta ghét đi học, chỉ thích đi cắm trại ngoài trời. Các ngươi sẽ không đưa ta về nhà nữa phải không?

 

Tôi đáp:

 

- Không phải ngay bây giờ. Chúng ta sẽ ở đây, trong cái động này một thời gian đã!

 

Thằng nhóc nói:

 

- Tốt! Đó là ý tốt. Suốt đời ta chưa bao giờ có cuộc vui nào như thế này.

 

Rồi đến 11g đêm, chúng tôi đi ngủ. Vừa tảng sáng, tôi bị đánh thức bởi một loạt tiếng thét kinh hoàng của Bill. Thằng nhóc đang ngồi trên ngực Bill, một tay giữ tóc tay kia cầm một con dao bén, cố cắt da đầu của Bill như lời nói tối hôm qua. Tôi vội giật con dao khỏi tay nó. Nhưng sau sự việc đó, tinh thần của Bill suy sụp. Bill nằm ngủ, nhưng không bao giờ nhắm mắt lại chừng nào mà thằng nhóc còn ở với chúng tôi.

 

Bill hỏi:

 

- Mày có cho rằng có ai đó sẽ trả tiền chuộc để nhận một thằng tiểu yêu như thế về nhà không?

 

Tôi nói:

 

- Chắc chắn. Một thằng nhóc như thế đúng là loại mà bố mẹ chúng thương yêu chiều chuộng. Bây giờ mày gọi thằng nhóc tù trưởng dậy đi và làm cái gì để ăn, trong khi đó tao lên trên đỉnh núi này nhìn xung quanh xem sao.

 

Tôi trèo lên đỉnh ngọn núi, quan sát khắp thị trấn Summit, mong thấy cánh đàn ông trong làng lùng sục các ngõ ngách để tìm thằng nhóc mất tích, nhưng tất cả yên lặng như tờ. Tôi tự nhủ: “Có lẽ chưa ai biết các con sói đã đưa con cừu non vào khe núi đâu!” rồi leo xuống núi.

 

Khi trở lại hang động, tôi thấy Bill quay lưng ngược ra thở hổn hển, còn thằng nhóc đang dọa đập hòn đá vào Bill. Bill phân trần:

 

- Nó áp một củ khoai tây nóng hổi vào lưng tao, rồi lấy chân đè lên. Tao đã tát vào tai nó, mày có đem theo cây súng nào không Sam?

 

Tôi giật hòn đá khỏi tay thằng nhóc, rồi cố can ngăn cuộc cãi lộn. Thằng nhóc dọa Bill:

 

- Ta sẽ trừng phạt ngươi. Chưa bao giờ có ai dám tấn công tù trưởng da đỏ, ta không thể không đáp trả lại việc này. Tốt hơn ngươi nên cẩn thận!

 

Sau khi ăn xong, thằng nhóc gỡ một vật bằng da có dây buộc quanh trên bộ y phục đang mặc rồi đi ra ngoài hang động tháo ra. Sau đó chúng tôi nghe tiếng hò hét rất lạ lùng. Thằng nhóc quàng dây vào một tay, tay kia quay chiếc dây quanh đầu càng lúc càng nhanh. Rồi ngay sau đó tôi nghe tiếng thét thất thanh của Bill. Một viên đá bằng quả trứng đập vào ngay sau tai trái của Bill. Bill té vào đống lửa bên kia chiếc chảo nấu nước nóng để rửa đĩa. Tôi vội vàng kéo Bill ra, giội nước lạnh lên đầu Bill trong nửa tiếng đồng hồ, xong chạy ngay ra ngoài tóm thằng nhóc, lay mạnh, quát lên:

 

- Này thằng nhóc, tao nói cho mày biết nếu mày không sửa đổi hành vi, tao sẽ đưa mày về nhà ngay nghe không. Nào, bây giờ nói cho tao biết mày sẽ sửa lại không?

 

Thằng nhóc đáp:

 

- Ta chỉ đùa thôi. Ta không có ý làm cho Già Hank đau đâu. Nhưng ta không hiểu hắn đánh ta để làm gì? Ta sẽ cư xử đàng hoàng nếu ngươi không đem ta về nhà!

 

Tôi nghĩ tốt nhất là gửi một bức thư cho lão Dorset ngay ngày đó để đòi tiền chuộc và thông báo cách thức trao tiền. Nội dung bức thư như thế này:

 

“Chúng tôi hiện đang giữ con trai của ông ở một nơi rất xa thị trấn Summit. Chúng tôi yêu cầu ông trả 1.500 đô la để nhận nó về; tiền chuộc giao vào ngay nửa đêm tối nay ở cùng một nơi và đặt trong cùng chiếc hộp như thư trả lời của ông. Nếu ông đồng ý những điều kiện này, hãy viết thư trả lời gửi cho người đưa tin vào lúc 8g30 tối nay. Sau khi băng qua Owl Creek, trên đường tới Poplar Cove, ở đó có ba cây cổ thụ. Ngay dưới chân hàng rào, đối diện cây thứ ba, sẽ có một chiếc hộp nhỏ. Người đưa tin sẽ bỏ thư trả lời vào chiếc hộp này và phải quay lại thị trấn Summit ngay lập tức. Nếu ông không đáp ứng yêu cầu của chúng tôi, ông sẽ không bao giờ gặp lại thằng con của ông lần nào nữa đâu. Còn nếu ông trả tiền chuộc như yêu cầu, thì trong vòng ba tiếng đồng hồ, thằng con của ông sẽ trở về với ông an toàn và khỏe mạnh!”

 

Tôi cầm bức thư, đi thẳng tới Poplar Cove, ngồi gần bưu điện và cửa hàng bách hóa. Có một ông già ở đó nói rằng ông nghe ở thị trấn Summit đang xôn xao thông tin thằng con trai của ông Ebenezer Dorset bị thất lạc hay bị bắt cóc gì đó. Đó là tất cả những gì tôi muốn biết. Tôi gửi bức thư rồi đi ngay. Người bưu tá nói một giờ nữa xe đưa thư sẽ đến nhận thư để đem đến thị trấn Summit giao.

 

Đến 8g30, tôi đã ngồi trên cây cổ thụ thứ ba, đợi người đưa tin đến. Đúng vào giờ đó, một thằng bé mới lớn cỡi chiếc xe đạp đang trên đường tới đó. Nó thấy chiếc hộp dưới chân hàng rào, vội dừng xe lại rồi tiến đến chiếc hộp, bỏ bức thư được xếp ngay ngắn vào, rồi đi ngược về hướng thị trấn Summit. Tôi trượt xuống cây cổ thụ, lấy bức thư, nhanh chóng quay ngược về hang động trong vòng nửa giờ. Tôi mở bức thư đọc lên để cho Bill cùng nghe. Bức thư đã viết như thế này:

 

“Thưa quý ông! Tôi đã nhận thư của quý ông yêu cầu tiền chuộc để trả thằng con trai của tôi về nhà. Tôi cho rằng quý ông yêu cầu hơi cao, do đó tôi có một đề nghị ngược lại mà tôi tin quý ông sẽ chấp nhận. Quý ông hãy đưa thằng Johnny về nhà và trả cho tôi hai trăm năm mươi đô la thì tôi sẽ dang hai tay ra nhận thằng bé về từ tay quý ông. Tốt hơn quý ông nên đến vào lúc nửa đêm bởi vì hàng xóm đang nghĩ rằng nó bị lạc. Và tôi sẽ không chịu trách nhiệm về những gì họ cư xử đối với bất kỳ ai mà họ thấy người đó đem thằng bé về. Kính thư, Ebenezer Dorset.”

 

Tôi thét lên:

 

- Táo tợn thật! Đúng là bọn đại hải tặc Penzance…

 

Nhưng tôi nhìn Bill rồi dừng lại. Đôi mắt Bill hiện lên sự cầu khẩn thiết tha nhất mà tôi đã từng thấy ở một con vật câm hoặc không biết nói. Bill nói:

 

- Sam này, xét cho cùng thì hai trăm năm mươi đô la là gì? Chúng ta có tiền, thêm một đêm nữa với thằng nhóc này sẽ làm tao điên mất. Tao cho rằng ông già Dorset có ý tốt với chúng ta. Mày sẽ không để vuột mất cơ hội phải không?

 

Tôi đáp:

 

- Hãy nói sự thật đi Bill! Con cừu non này cũng đã chọc tức tao. Chúng ta đưa nó về nhà, trả “tiền chuộc” rồi cút nhanh.

 

Tối đó chúng tôi đưa thằng nhóc về nhà. Chúng tôi dụ được thằng nhóc đi bằng cách kể cho nó biết rằng ba nó đã mua một cây súng để hôm sau cả bọn chơi trò đi săn gấu. Đúng 12g đêm, chúng tôi gõ cửa nhà lão Ebenezer. Bill đếm hai trăm năm mươi đô la, rồi giao tận tay lão. Khi thằng nhóc nhận ra việc chúng tôi sắp kế hoạch bỏ nó lại, nó khóc rống lên, dùng hết sức ôm chặt một chân của Bill. Lão Ebenezer từ từ kéo nó ra. Bill hỏi:

 

- Ông có thể giữ thằng nhóc trong bao lâu?

 

Lão đáp:

 

- Bây giờ tôi không còn mạnh như xưa, nhưng tôi có thể hứa với các ông là tôi giữ được nó trong vòng 10 phút.

 

Bill đáp:

 

- Đủ! Trong 10 phút tôi sẽ băng qua các tiểu bang ở miền Trung, miền Nam và vùng trung tâm phía Bắc Hoa Kỳ, rồi chạy đến biên giới Canada.

 

Rồi trong lúc bầu trời tối đen như mực, Bill với thân hình béo phì nhanh như chớp đã thể hiện mình cũng chạy giỏi như tôi, anh ta đã thoát khỏi thị trấn Summit một dặm rưỡi trước khi tôi bắt kịp.

 

 

TRẦN PHI TƠ (dịch)

 

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016

MÓN QUÀ CỦA BA VUA


Một đồng tám mươi bảy xu, đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó.

Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa. Không hề có sự nhằm lẫn, chỉ có một đồng tám mươi bảy xu ,và ngày mai sẽ là lễ giáng sinh.

Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống và khóc mà thôi. Ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở.

Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố NEW YORK.

Họ có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên, cô rất hạnh phúc khi ôm 'Jim', James Dillingham Young, trong tay mỗi khi anh trở về.

Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ.

Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho Jim, Jim của cô, một món quà. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa, một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh.

Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tường. Mắt cô sáng lên.

Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta. Thứ còn lại là mái tóc của Della.

Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát.

Della buớc chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu 'Madame Eloise'. Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp, bà ta chẳng có một chút vẻ 'Eloise' nào cả.

Della cất tiếng hỏi: 'bà mua tóc tôi không?'

'Tôi chuyên mua tóc mà', bà ta đáp và bảo: 'hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi'

Suối tóc nâu đẹp tuyệt vời buông xuống.

'Hai mươi đồng' bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.

'Hãy cắt nhanh đi! và đưa tiền cho tôi' Della nói.

Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho Jim trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ. Đó là môt sợi dây đồng hồ bằng vàng. Jim rất quí chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó.

Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại.

Đến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm: 'mình có thể làm gì với nó đây?'. Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ toàn những sợi quăn quăn khắp đầu. 'Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!'. Cô tự nhủ : 'Jim sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?'

Bảy giờ tối, bữa ăn đuợc chuẩn bị gần xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt Jim.

Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cái áo khoác mới. Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc: 'Đừng nhìn em như thế, anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói 'giáng sinh vui vẻ', em có một món quà rất hay cho anh này!'

'Em đã cắt mất tóc rồi à?' Jim hỏi

'Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? em vẫn là em mà!' Della nói.

Jim nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn: 'em nói là em đã bán tóc à?'

'Đúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh! Chúng ta có thể ăn tối được chưa, Jim?'

Chợt Jim vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn. Anh nói: 'anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy.'

Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung sướng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống.Trong đó là một bộ kẹp tóc, những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa!

Della nâng niu món quà, mắt tràn đầy hạnh phúc. 'Tóc em sẽ chóng dài ra thôi Jim', nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho Jim và chạy đi lấy.

'Đẹp không anh? em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, Jim, hãy nhìn nó với sợi dây mới này'

Nhưng Jim không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cười nói: 'Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu. Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em. Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu'

... đó là một câu chuyện cảm động về tình yêu của hai bạn trẻ đã hết lòng yêu nhau. Luôn nghĩ về nhau.



 O. Henry                     
(American writer, William S. Porter)