Trong nhà, người ghét nhắc lại chuyện ngày xưa nhất có lẽ là Ba em. Bởi vì với một lũ con mà từ đứa lớn đến đứa bé đều có chút máu tếu nghịch trong người thì mỗi lần nghe Mẹ kể lại những kỷ niệm với Ba xưa kia, cả lũ thường bình phẩm tinh nghịch rồi rúc rích cười mãi khiến Ba tuy không giận lũ con lí lắc nhưng không khỏi vô cùng ngượng với Mẹ em. Theo lời Mẹ kể thì ngày xưa Mẹ không hề thương Ba mà vẫn phải nhận lời làm vợ vì vâng theo ý muốn của ông bà Ngoại vậy thôi. Hôn nhân ngày trước thường trải qua nhiều lễ nghi và Ba Mẹ không hề được nói chuyện với nhau trước ngày cưới dù Ba vẫn thường lên nhà Ngoại trong những dịp chạm ngõ, đi tết, đi hỏi v.v... Mẹ chỉ kể đến đấy là đám con nhao nhao lên hỏi các chi tiết như lúc đó Ba còn đi học hay đã đi làm, Ba mặc âu phục... Những lần ấy nếu có Ba em ở đó Ba sẽ giả vờ quát lên: "Ồn quá, để Ba đọc báo" hoặc Ba phải nhượng bộ cầm tờ báo bước ra hiên với nụ cười dễ dãi và hơi ngượng.
Phải nhận rằng hầu hết các cuộc hôn nhân thời trước không cần có sự đồng ý của "2 nhân vật chính" mà vẫn đi đến chỗ êm đẹp, thuận hòa. Trường hợp Ba Mẹ em cũng thế. Ba nóng tính nhưng hiền, biết lo cho gia đình, Mẹ em thì một lòng kính Ba, và cho đến nay Ba Mẹ em đã chung sống trên 30 năm mà không hề có một lần cãi vã to tiếng nào. Hễ thấy Ba sắp nổi nóng thì Mẹ nhịn, còn đôi lần Ba có lỗi, Mẹ sắp cằn nhằn thì Ba nhận lỗi ngay. Cứ như thế "những cơn giận đơn phương" dễ dàng tan biến. Bà Nội em đảm đang và Mẹ em cũng giỏi dắn trong bổn phận đàn bà, vì thế Ba em là người đàn ông chỉ biết "các công việc ở nhà trên", đã có người khác săn sóc, lo toan những việc nhỏ nhặt, tinh tế trong nhà. Đời Ba cũng trải qua 3 lần tù tội: Dưới thời Pháp thuộc, thời Việt Minh và gần nhất dưới thời Ngô Đình Diệm. Cả 3 lần Ba không đến nỗi khổ sở lắm, chỉ tội cho Mẹ em phải lo lắng chạy vạy nuôi con, thăm chồng. Những thất bại Ba em gặp trong đời đều do cái tính dễ tin người của Ba (bản chất Ba em là thật thà và thiệt thòi nhất là nghĩ mọi người cũng đều thành thật như mình. Thêm vào đó, Ba xoay sở có phần chậm chạp, nóng tính nên dễ hỏng việc.) Và chắc chắn cái năng khiếu về văn chương và âm nhạc của các con Ba là do ảnh hưởng bên Mẹ thôi. Ba em vẽ khá nhưng có lần trong một cuộc thi nào đó có môn thi vẽ hoặc đơn ca tùy thí sinh chọn, không hiểu sao Ba em đã chọn phần ca và nghiêm trang đứng lên hát bài "Quốc Ca Việt Nam" (Ba chỉ biết hát duy nhất bài hát đó) thật to và thật oai khiến... cả giám khảo lẫn tất cả thí sinh trong phòng cùng đứng nghiêm chào cờ hết. Dĩ nhiên chuyện nầy nếu Ba không kể thì lũ con đâu có biết nhưng Ba cũng không tỏ vẻ ân hận khi thỉnh thoảng bị lũ con nghịch ngợm nhắc lại chuyện cũ để cười cho vui cửa vui nhà. Âm nhạc, Ba chỉ thích nghe lối hò xứ Huế. Chả là ngày xưa Ba đã có những năm lênh đênh trên các chuyến đò xuôi sông Hương và mỗi lần nhắc lại Mẹ còn nửa đùa nửa thật thêm rằng Ba "cảm" một o nào đó có giọng hò tuyệt hay. Bây giờ thì Ba yên bình sống tiếp cuộc đời công chức đã trên 10 năm của mình. Ba làm gần nhà rồi thuyên chuyển vào Cam Ranh, Sàigòn. Đi đâu cũng chỉ mình Ba đi, Mẹ em chỉ thích ở lại với các con để còn gần họ hàng, vườn nhà. Mà Ba thì cũng không thích xa nhà, cũng cố tìm cách xin về cái tỉnh nhỏ thân thiết nầy đối với Ba. Và ước vọng của Ba em là được khỏe mạnh làm việc nuôi các con đến đứa bé nhất học đến nơi đến chốn. Vừa vặn đến lúc về hưu, về nhà sống bằng số lương hưu trí và huê lợi ruộng vườn, dành phần đời còn lại săn sóc vườn hoa, đọc sách và tìm hiểu sâu xa giáo lý nhà Phật.
Ngày còn bé có thể nói em chỉ biết gần Mẹ chứ ít quan tâm đến Ba. Với em, trong bài học thuộc lòng "Công ơn Cha Mẹ" thì cái câu "Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra" êm ái và đáng nhớ hơn câu đầu thừa mất một chữ sơn nói về công cha. nếu có ai hỏi giữa Ba Mẹ em thương ai hơn thì em không ngần ngại trả lời là thương Mẹ hơn Ba. Hình ảnh Ba lúc đó với em quá to lớn, nghiêm trang và khá dễ sợ, dù rằng đôi khi em vẫn chơi đùa cạnh Ba, được Ba gọi đến cho tiền và cho kẹo bánh. Dù sao, lúc trước còn non nớt em làm sao thương Ba bằng Mẹ được khi hầu hết thì giờ của Ba là ở sở làm, về nhà thì trừ giờ ăn Ba bận đọc sách báo, nghỉ ngơi... Thỉnh thoảng Ba cũng trò chuyện vui vẻ với Mẹ, với các con nhưng sao bằng Mẹ em lúc nào cũng gần gũi bên các con, săn sóc yêu thương, nói những lời nhỏ nhẹ êm đềm. Lũ con ba đứa nào cũng thích tán dóc khi sau những buổi học, họp mặt trong bữa cơm. Thế nhưng buổi ăn sáng và tối, ba lại bắt cả bọn im lặng để Ba nghe đài B.B.C. Những lúc ấy em thấy Ba sao mà nghiêm khắc thế và cả bọn đành ăn chầm chậm đợi Ba ăn xong đi lên nhà trên là ào ào phát thanh miệng. Lớn lên, dần dần em mới hiểu thấm thía công nuôi dưỡng của Ba cùng tình thương bao la của Người đối với gia đình trước sau như một. Từ những khó khăn thời kháng chiến, Ba đã không ngớt lo lắng để vừa lo tròn bổn phận đối với Tổ quốc vừa lo cho gia đình được no đủ. Bước qua quãng đời sung sướng hơn là sau thời kỳ tiếp thu. Lúc đó chiến tranh Nam Bắc chỉ mới mang cái giai đoạn chuẩn bị êm ả nơi mịt mù trùng điệp của Trường Sơn xa thẳm, cuộc sống gia đình công chức tương đối dư dả. Em nhớ lại mỗi chiều đi làm về thế nào Ba cũng nhớ mua kẹo bánh cho các con. Thỉnh thoảng có đại nhạc hội nơi rạp hát độc nhất trong tỉnh, Ba chịu khó đi mua vé đưa cả nhà đi xem. Mua báo, Ba cũng nhớ mua thêm cho các con những tờ báo thích hợp với trẻ con. Em còn nhớ hoài kỷ niệm ngày còn bé, chiều thứ bảy cùng các anh chị kéo ra tận ngõ ngoài đón chiếc xe đạp màu xanh của Ba từ đường lớn rẽ vào, để giành giật tờ phụ trang Ngôn Luận trên tay Ba. Nhưng rồi như theo một tỉ lệ nghịch, mức độ chiến tranh càng lên cao thì đời sống của người công chức nói riêng càng sa sút. Vấn đề cơm áo cho gia đình, việc học cho các con hoài hoài là những mối ưu tư ám ảnh bắt Ba phải lo lắng. Lại nữa, tỉnh em là tỉnh nhỏ, các anh chị của em khi lên Đại Học là phải vào Sàigòn hoặc ra Huế, sự chi tiêu trong nhà càng tốn kém hơn. Với chức chủ sự trong một công sở lớn ở Sàigòn, nhưng số lương chính thức của Ba em quá ít ỏi so với vật giá hiện thời nên Ba phải nhận làm giờ phụ trội, làm sổ sách cho các tiệm buôn mới đủ tiền chi tiêu trong nhà. Làm việc chính thức ở sở, giờ phụ trội vào ngày chủ nhật, về nhà bận rộn với những con số, Mẹ em nhiều lần xót xa khi nghĩ về nỗi nhọc nhằn đó của Ba và đám con thì ngậm ngùi nghĩ đến tình trạng xã hội thời chiến, sự cần cù thanh liêm của một người công chức được đền đáp bằng mức sống túng hụt cho gia đình. Em không muốn oán trách ai mà chỉ nhớ đến điều thiết thực là chăm học để Ba Mẹ hài lòng và tạm quên những nỗi nhọc nhằn, xót xa. Hy vọng một mai đất nước thanh bình, người công chức không cần làm thêm cho tư nhân, làm giờ phụ trội mà vẫn có được một đời sống no đủ.
Tình thương dành cho Ba nơi em càng sâu đậm hơn khi nhận biết những săn sóc thương yêu đặc biệt Ba dành cho em và khi càng lớn dần, hình ảnh về Người đối với em tuy vẫn oai nghiêm nhưng không còn "dễ sợ" mà tràn đầy khả kính và dạt dào mến thương. Sống trong một gia đình đông con mà tính em lúc nhỏ dễ tủi thân, dễ hờn dỗi thì đúng là một điều không mấy đáng yêu (bây giờ thì hết rồi, em đã giỏi chịu đựng những bất như ý gặp hằng ngày để thấy đời sống dễ chịu hơn). Hồi đó mỗi lần giận hờn là một lần em tuyệt thực, Mẹ và các anh chị sau vài lần dỗ dành không được cũng bỏ mặc khiến em đói meo. Lúc ấy Ba không nói gì nhưng sau đó thế nào Ba cũng gọi em đến, cho lãnh tiền bồi thường (dù em tuyệt thực chẳng phải lỗi ở Ba) để mua bánh mì bù lại. Rồi Ba em ở Sàigòn đã gần 4 năm, Ba luôn luôn viết thư về thăm gia đình mà lần nào thư cũng đề tên em, em đọc và phổ biến tin tức cho cả nhà và lãnh luôn nhiệm vụ trả lời thư cho Ba. Đôi khi các anh chị hoặc em của em cũng thích giành đọc thư Ba nhưng phải chán vì không quen với nét chữ khó coi của Ba (cả nhà vẫn hay bảo Ba không phải là bác sĩ mà viết chữ khó đọc chả kém bác sĩ tí nào). Thật thế, em quen đọc thư Ba mà nhiều lần vẫn "bí" như thường, gặp trường hợp ấy em đọc lướt qua để hiểu ý nghĩa cả câu hoặc cả đoạn thư rồi mới suy ra cái chữ hóc búa kia (cứ làm như thư viết bằng ngoại ngữ không bằng!). Lâu dần em đọc thạo chữ viết của Ba hơn và được các anh chị gọi là "chuyên viên đọc thư Ba". Mỗi lần đọc thư Ba mà gặp chỗ đoán không ra, Mẹ em và các anh chị phải mời "chuyên viên" đến ngay.
Bây giờ và mãi mãi về sau có ai hỏi em thương Ba hay thương Mẹ hơn thì em sẽ không ngần ngại trả lời rằng em thương cả 2 người bằng nhau. Em đã hiểu thấu diễm phúc của một người có được cái bóng dáng hùng vĩ của Thái sơn che chở bảo bọc bên cạnh giòng suối ngọt ngào của Mẹ giúp đời mình thêm phong phú yêu thương. Em đã viết bài nầy mà không cần đến trí tưởng tượng vì chỉ việc ghi theo sự thực về người Cha kính mến của em. Ba kính yêu của con, từ trước con chưa có dịp nào viết về Ba (dưới tiểu học cũng như trên trung học, thường con chỉ gặp những đề luận tả người Mẹ mà thôi). Đây là lần đầu tiên con có dịp viết về hình ảnh cao quý như ngọn núi Thái của con và tình thương của con dành cho ngọn núi cao ngất đã nghiêng cái bóng dáng to tát bảo bọc cho đời mình được bình yên lúc còn sống, trong vòng tay thân ái của gia đình. Và con xin gọi những giòng nầy là món quà của "chuyên viên đọc thư Ba" dành kính tặng Ba, bóng núi hùng vĩ nhất một đời con đó.
ÁI BẮC
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 16, tuần lễ từ 9-9 đến 16-9-1971)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét