Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025

NHỮNG NGỌN CỎ HÉO HẮT - Vũ Linh Thiêng


Có lẽ suốt đời tôi chỉ là một chuỗi chắp nối những luyến tiếc. Luyến tiếc trong ý nghĩ không cùng kỷ niệm của những tháng ngày nồng nàn yêu dấu. Như những ngọn cỏ héo hắt.
 
Hôm đó tôi theo chuyến tàu lửa vào Huế trọ học. Con tàu đen đủi, nghèo nàn này đã quá quen thuộc với tôi sau những chuyến đi về buồn bã và tiếng còi tàu nhiều lúc tôi nghe như một điệu nhạc bất chợt cô đơn, làm dậy lên trong tôi một chút nao nao. Vì sau lưng là quê hương xanh ngát, ở đó có một vườn cây ăn trái buổi sáng luôn luôn nghe thấy chim hót, và những cánh hoa khế mầu tím nhạt chết rũ đầy lối đi. Lavang nghèo nàn nhưng thân thiết đó. Tất cả đầy ắp trong trí nhớ của tôi.
 
Tôi ngồi gọn trong lòng ghế. Toa tầu hơi trống vắng. Tôi nghe thoáng trong hơi gió mùi hàng cá tanh tưởi từ một toa tàu nào tạt lại làm tôi chun mũi khó chịu. Bên kia dãy ghế, thật trầm lặng, nàng ngồi, dáng bé bỏng tội nghiệp như một con chim se sẻ mùa đông ướt cánh. Áo nàng thật trắng, thật tinh khiết cơ hồ như còn ngửi thấy được mùi thơm in trên nếp áo. Suốt buổi nàng ngồi co ro nhìn ra bên ngoài khung của sổ. Tôi chỉ thấy được hai bờ vai nhỏ nhoi yếu đuối và một mái tóc cắt rất ngang. Có lẽ nàng vừa mới lớn và cũng chỉ vừa mới biết làm duyên. Bên ngoài ô vuông cửa sổ những hàng cây xanh thẫm như những thằng điên đang đuổi nhau chạy về đằng sau. Và trời thì rất xanh rất trong và rất im.
 
Bất chợt nàng quay đầu lại nhìn vào trong toa tầu. Bắt gặp đôi mắt tôi đang mở lớn. Nàng bối rối cúi xuống một chút. Tôi thấy rõ đường ngôi rất thẳng của nàng và những sợi tóc lòa xòa che phủ một vầng trán tinh anh. Thoáng một chút hương con gái dìu dịu. Và tôi hít nhè nhẹ sơ e kinh động nàng. Tôi không còn nghe mùi cá sống tanh tưởi nữa. Nàng lại nghiêng đầu nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Thật lâu. Làm sao tôi có thể biết được những ý nghĩ lúc bấy giờ trong đầu óc nàng. Nhưng tôi thì biết chắc những ý nghĩ lúc bấy giờ trong đầu óc tôi. Chẳng hạn như cô bé đẹp thật...
 
Nàng lại quay đầu vào. Cũng bắt gặp đôi mắt như cú vọ thôi miên của tôi. Tôi thấy mắt nàng xanh mướt lạ kỳ, mầu xanh của biển cả mênh mang và hàng lông mi cong vút như những rặng phi lao. Lần này nàng có vẻ bạo dạn hơn một chút, chỉ một chút thôi. Nàng sửa lại vạt áo trắng ngay ngắn trên hai đầu gối rồi lại thản nhiên quay ra nhìn bên ngoài cửa sổ. Tôi thì thực sự đã cảm thấy ghen với trời mây cây cỏ rồi đó. Và tôi muốn nói với nàng nhìn gì ngoài kia hoài vậy cô bé, có khỉ khô gì đâu, chỉ tổ thêm chóng mặt thôi đấy nhé, lại mỏi cả cổ nữa đó, tối về ngủ không được đâu. Nhìn anh nè.
 
Và tôi đợi chờ nàng nhìn vào, sửa soạn cho một cuộc chinh phục. Vuốt lại một chút mái tóc rối bù vì bụi gió. Gấp lại một chút nếp pli quần cho sắc. Và môi cố nhếch một nụ cười thật có duyên, thật mê hồn, thật nghệ sĩ. Tôi sẵn sàng cả rồi đấy, quay mặt nhìn vào đi chứ cô bé. 
 
Và rồi đã đến lúc mỏi cổ, có lẽ thế, nên nàng quay đầu vào. Lẽ dĩ nhiên là nàng thấy tôi đang cười. Lần này nàng nguýt tôi một cái ôi cái nguýt làm rụng rời chân tay tôi, làm xiêu lạc hồn phách tôi, nguýt nữa đi em cho chân tay tôi thêm rụng rời, hồn phách tôi thêm xiêu lạc. Nàng mỉm một nụ cười, lắc đầu hất mái tóc về đàng sau. Một chút làm duyên. Ôi chao cô bé dễ thương quá đi thôi. Biết nói câu gì bây giờ hở cô bé.
 
- Cô bé nhìn gì ngoài trời mãi vậy?
 
Nàng cười nhè nhẹ lắc đầu không nói.
 
- Cô bé đi một mình thôi hở?
 
Câu hỏi vô duyên tệ, nên nàng mím miệng cúi đầu, hai bàn tay bối rối đan vào nhau. Và tôi thì đã cảm thấy một chút máu nóng trong người.
 
Một vài câu hỏi bâng quơ nữa, nàng vẫn chỉ trả lời bằng một nụ cười huyền hoặc. Con tàu vẫn chạy, nhịp bánh nghiến vẫn đều đều. Và tôi thì mãi loanh quanh với những ý nghĩ của tôi. Hay là cô bé câm. Hay là cô bé điếc. Hoặc vừa câm vừa điếc. Tôi nghiệp cho cô bé chưa!
 
Con tàu chợt giật mạnh rồi ngừng lại ở một ga nhỏ. Tiếng người lên xuống chen lẫn lao xao. Mùi cá tanh tưởi lặng gió hôi nồng nặc. Tôi khó chịu nhăn mặt chun mũi lại. Có lẽ dáng điệu của tôi lúc ấy trông thật xấu xí kỳ cục, nàng ngó thấy vội phì cười:
 
- Gì mà làm dễ sợ rứa?
 
Ôi chao tôi mừng biết mấy. Sau này lúc ngẫm nghĩ tôi mới thấy câu nói của cổ nhân "mưu sự tại nhân thành sự tại thiên" thật là đúng. Và tôi nhớ hình như đã hét lớn:
 
- Ô may quá!
 
Nàng ngạc nhiên. Chắc thế:
 
- May cái gì hở?
 
- Tôi cứ tưởng...
 
Tôi định nói, cứ tưởng cô bé vừa câm vừa điếc chứ nhưng may quá tôi đã kịp thời bỏ lửng.
 
Nàng cười, nguýt dài. Ôi cái nguýt muôn đời vẫn đẹp của nàng! Nàng liếc nhanh ra ngoài:
 
- Ga nào đây anh nhỉ?
 
Tôi vội vàng:
 
- Ga Phò Thạch đó! Cô bé đi Huế mấy lần rồi?
 
- Em ở Huế mà. Mới đi ra Quảng Trị vài lần thôi à. Nên chưa thuộc hết tên các ga đó...
 
Giọng nói của nàng trong và êm chi lạ, tôi nghe thân thuộc và gần gũi như tiếng hót của con chim nào buổi sớm mai mùa hạ trong vườn cây ăn trái nhà tôi.
 
- Không nhìn ra ngoài cửa sổ nữa à?
 
Nàng cười nhẹ. Tôi thoáng thấy bên ngoài trời vẫn im lìm xanh thẳm, nhưng hình như đã có một sợi khói mây nhạt nhòa nào đó. Có lẽ nàng cũng đã thoáng thấy, như tôi.
 
- Anh vào Huế làm gì?
 
- Đi học.
 
- Trường nào?
 
Tôi trêu nàng:
 
- Hỏi làm gì, còn để thì giờ cho người ta học chứ!
 
Nàng hứ một tiếng thật dễ thương. Tôi vội vàng, sợ nàng giận:
 
- Trường Thiên Hữu, chắc cô bé biết chứ. Còn cô bé, học ở đâu? 
 
- Anh đoán thử coi!
 
Tôi giả vờ nhắm mắt, nói đại một tên quen thuộc:
 
- Đồng Khánh!
 
Nàng mím môi, nhìn vào mắt tôi, có một chút gì bí mật:
 
- Ừ hạ, anh giỏi nhe ha!
 
Tôi hứng chí, ba hoa thêm:
 
- Huế, Đồng Khánh là nhất!
 
Nàng tinh nghịch:
 
- Vậy hở? Khi nào mời anh tới chơi!
 
- Cô bé xúi dại tôi hả? Tới đó chắc tôi chết rét mất!
 
- Anh cứ mặc áo ấm vào rồi tới...
 
Nàng giấu mặt cười sau câu nói đùa của nàng. Tôi làm ra vẻ nghiêm trang:
 
- Tôi tới cô không sợ sao?
 
- Sợ?
 
- Sợ mất tôi. Sa vào tay người khác...
 
Tôi nói nhỏ tiếng sợ nàng giận. Tôi thấy má nàng ửng đỏ:
 
- Hứ, ai thèm! Mời anh tới dựa cột đèn đấy chứ!
 
- Ủa, sao để tôi tội nghiệp vậy?
 
- Đành vậy, chứ biết làm sao. Vì em đâu có học ở đó...
 
- Thế sao lúc nãy cô bảo học ở Đồng Khánh?
 
- Ai bảo?
 
- Cô!
 
- Em hay anh?
 
Nàng cãi như một đứa bé. Tôi thấy nàng thật dễ thương. Vẻ mặt nàng chùng hẳn xuống. Tôi luống cuống sợ nàng bỏ tôi quay ra với ô vuông cửa sổ của nàng thì thật là nguy. Tôi cố làm ra vẻ thật thiểu não, tay đấm đấm vào ngực:
 
- Ừ thì anh. Lúc nãy anh quên. Cho anh xin lỗi nghe cô bé!
 
 Tôi đổi lối xưng hô một cách ngon lành. Và nàng thì hình như chỉ muốn hờn một chút làm duyên mà thôi. Khuôn mặt nàng rạng rỡ tinh anh trở lại. Rồi nàng kể cho tôi nghe tuổi thơ của nàng, trường học, bạn bè của nàng, mùa mưa, mùa nắng và ước vọng của nàng. Hè vừa rồi nàng ra chơi nhà bà ngoại ở ngoài này, bây giờ nàng trở vào để bắt đầu một niên học mới. Và tôi thì kể cho nàng nghe về một vườn cây ăn trái có lá rất xanh và trái rất ngọt buổi sáng hoa khế tím rụng đầy lối đi. Và tôi nói với nàng là mùa hạ năm tới anh sẽ mời em tới thăm. Và em sẽ là con chim nhỏ muôn đời hót mãi trong vườn đời anh.
 
Bây giờ thì không gian xa cách, nên tôi chỉ còn biết ước mơ bé nhỏ là chung thân làm một loài nhai lại, nhai lại rất ngon và rất thơm những ngọn cỏ héo hắt mà nàng đã trao cho tôi ngày đó.
 
 
VŨ LINH THIÊNG     
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 78, tuần lễ từ 23 đến 30-11-1972)
 

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

CĂN GÁC HỒNG CỦA LÂM - Bình Nguyên Lộc

 
 
Thật ra thì căn gác hồng của Lâm màu xám. Nóc tôn màu xám thì đã đành rồi, mà gỗ và ván màu trắng, màu vàng lợt, cũng muốn màu xám vì nắng táp, mưa tạt chầy ngày.

Nhưng bạn hữu của chàng lại đặt tên gác ấy là "gác hồng" vì một lý do kể ra kể ra rất dài dòng, chớ không phải dịch hai chữ "Hồng lâu" ra đâu.

Lâm là một anh con trai vui tánh. Chắc anh ta cũng có bị những ray rứt hành hạ anh ta chớ chẳng không, ray rứt vì thế sự, vì vận nước, vì tình hoặc vì một chuyện thấp lè tè là chén cơm hằng bữa, nhưng bề ngoài trông cứ như là anh ta yêu đời luôn luôn.

Mà cái gì làm cho một anh con trai yêu đời ? Một người đẹp. Đó là lối suy luận của bạn hữu của Lâm.

Suy luận như vậy, lũ nó tò mò tìm xem người ấy là cô nào. Nhưng anh chàng Lâm cứ lủi thủi một thân trên đường đời.

Đi xi-nê, đi dạo phố, đi ăn uống gì chàng ta cũng chỉ đi một mình, hoặc với bạn trai.

Thế nên rồi mấy thằng bạn "ưu thời, mẫn thế" của Lâm lại suy luận sâu thêm rằng, nếu nó cứ đi ra ngoài cu ky một mình mãi thì hẳn là nó giấu người đẹp trong nhà nó, vì một lẽ gì đó.

Vậy là lũ nó trổ tài thám tử, dò la mãi rồi tìm ra cái tổ uyên ương bí mật của Lâm.

Đó là căn gác xép mà Lâm thuê mỗi tháng một ngàn đồng, chủ nhà ở dưới bao luôn đèn nước.

Căn gác, à không, cà căn nhà nầy, nằm trong một ngõ hẻm ngánh, nghĩa là một ngõ hẻm của một ngõ hẻm, ngõ hẻm chánh, rộng hơn ngõ ngánh một chút, là một con dơi muốn xưng mình là chim hay chuột gì cũng được, vì nó nối liền hai con phố song hành rất gần nhau, phố Phan Đình Phùng và phố Trần Quý Cáp, người trong hẻm có cho địa chỉ, khi thì đề Phan Đình Phùng, khi thì đề Trần Quý Cáp, người tìm phải ráng mà thám hiểm vì số nhà vô trật tự ở khu đó đừng có tin nó mà khổ.

Lũ nó tìm được căn gác hồng của Lâm, nhưng không có người đẹp nào trong đó hết. Ừ, lũ nó cố lì, nằm vạ ở đó mấy hôm, mà ra vào chỉ thấy bộ mặt hề của Lâm thôi, còn bóng hồng thì tuyệt nhiên không thấy dạng.

Nàng về quê ngoại chăng ? Không, nhà không mang lấy một dấu vết cỏn con của một phụ nữ đẹp hay xấu.

Lũ bạn của Lâm đành chịu bí, vì không còn cách nào khác để truy nguyên bí quyết yêu đời của chàng.

Chiều hôm ấy chàng đi chơi, thằng bạn kiên tâm nhứt vẫn còn nằm vạ trên gác xép với hi vọng mong manh khám phá ra cái gì.

Và nó đã khám phá được cái đó.

Bên kia ngõ hẻm ngánh, trước căn gác xám của Lâm là một biệt thự đồ sộ, trổ mặt ra phố Trần Quý Cáp. Vách nhà bếp, day ra đây, sơn đen thui. Ba căn nhà bếp nầy đều có lầu và mỗi căn lầu đều có cửa sổ kiếng mờ, sau trấn song sắt.

Kiếng mờ nầy không phải là loại kiếng trắng đục, mà là kiếng trong, nhuộm màu lục, có gọt bông hoa trên ấy. Trấn song sắt và bông hoa làm cho những gì hiện lên sau đó, hư ảo ghê lắm chớ không phải có đường viền rõ rệt như là sau kiếng trắng đục vậy đâu.

Hồi bảy giờ tối, thằng bạn kiên tâm ấy đứng hóng mát dựa vào bao lơn gỗ nơi hàng hiên gác và thấy đèn sáng lên trong căn lầu giữa của nhà nhà bếp.

Liền sau đó, một bóng người hiện ra. Vì khả năng biến hình của loại kiếng, bóng người ấy giống như một bức chân dung của phái "quy bít" gồm nhiều mảnh người vỡ ra và được ráp lại. Tuy nhiên nó cũng nhận ra được rằng đó là một cô gái.

Cô gái cởi áo ra rồi mặc vào chiếc áo khác.

Thằng kiên tâm chết lặng đi trước một thứ thoát y rất hấp dẫn nầy vì còn chuyện sau sẽ tiếp theo, gợi tò mò ghê lắm chớ không trắng trợn như thoát y vũ trong các hộp đêm, xem vài pha là hết muốn xem nữa.

Tới đây thì The End, mặc dầu đèn bên ấy còn. Cô gái tan nát trong các bông hoa gọt của lớp pha lê dầy màu lục, rồi biến mất.

Thế rồi ngày hôm sau huyền sử về "bí mật của chàng Lâm" được phổ biến sâu rộng ra và bao nhiêu bạn hữu của Lâm đều cũng đổ xô về căn gác của chàng mỗi đầu hôm, để xem Ti-Vi.

Chính Lâm cũng chỉ mới biết có chuyện động trời nầy thôi, nhưng chàng nói sự thật lũ nó không chịu tin, còn trách chàng xấu bụng nữa là khác.

Mỗi đêm, có thêm một trò chơi mới lạ: người đẹp làm gì như là soi gương, luôn luôn có thay áo, còn thay cả y phục thì chỉ thỉnh thoảng mà thôi.

Tất cả những trò công xúc tu sỉ nầy, lũ bạn dịch vật của Lâm chỉ đoán thấy thôi chớ không thấy rõ, vì hình ảnh nát quá và lũ nó rất giận sao chủ nhà không dùng loại kiếng trắng đục, có phải là hình ảnh mê ly hơn không. Qua kiếng trắng đục, họ cũng chẳng thấy gì rõ ràng được, tuy nhiên, đường nét viền quanh một thân thể vẫn nổi bật lên, đen thui.

Từ đây, hễ thằng nào chán đời, tới đây mua vé là được lạc quan.  Ừ, thằng Lâm nó bán vé hẳn hòi, chỉ lấy tượng trưng năm đồng thôi mà nó nói là để trám miệng chủ nhà ở dưới, ông ấy phàn nàn họ làm ồn quá.

Căn gác xám được đặt tên là "Căn gác hồng" kể từ chiều hôm ấy, hồng vì nó giúp những thằng muốn quyên sinh thấy cuộc đời mang màu hồng, cố bám níu vào dương thế để được tiếp tục xem thoát y vũ rẻ tiền.

Nhưng lũ nầy là thi sĩ cả chớ không phải là một bọn thấp lè tè đâu mà chỉ hài lòng mãi với bóng dáng người con gái cởi áo mỗi đầu hôm, bóng dáng ấy nó thô bỉ, không xứng với tâm hồn thơ của lũ nó.

Lũ nó vẽ vời ra : ông chủ nhà là một nhà thầu khoán, cô gái thoát y là con gái thứ tư của ông ấy. Hai người chị của cô ấy được mỗi người hai buồng ở trên kia, còn cô ấy vì còn đi học nên ở riêng sau nhà cho yên tịnh. Tuy là nhà bếp, nhưng thật ra nhà bếp ở dưới là lầu độc lập, mà ba căn lầu nhà bếp là đã quá sang rồi.

Để xem cô ấy tên gì ? Lucie, Hélène, Bích thu. Thúy Liễu ? Cái tên cuối cùng mà cậu nào cũng đồng ý là tên Phù Vân.

Và trời ơi, nàng đẹp không vần thơ nào tả cho đúng mức.

Nàng học ở đâu ? Đệ nhất Trưng Vương, Đệ nhị Gia Long ? Không, như thế thì còn bé lắm vì tâm hồn nàng phải học đại học lận kia.

Bọn thi sĩ cố không xem thoát y vũ nữa mà chỉ đợi đèn tắt để nhìn cái cửa sổ không bao giờ mở ra ấy để mà mơ người đẹp.

Họ cao hơn thường nhơn một bực là chỉ "con người" một vài hôm thôi, rồi đâm ra ghê tởm thú tánh của mình chỉ còn ham ngắm trong tưởng tượng một tâm hồn đẹp mà thôi.

Ừ, hẳn là tâm hồn nàng phải đẹp và để cho xứng với vẻ đẹp tinh thần của nàng, họ tự ý bỏ một trò ngoạn mục vô song.

Lâm không được tiền thu vé nữa, nhưng chàng lại rất hài lòng. Chàng si ghê lắm và đâm ghen, muốn chiếm độc quyền người ngọc.

Giờ, không ai dòm mỹ nhân cởi áo nữa, chàng vẫn chưa hết ghen bởi lũ nó còn mơ giai nữ của chàng, còn tưởng tượng về nàng lúc chúng nó nằm trên sạp ván hàng hiên, mà có lẽ mơ cả những lúc chúng nó đi ăn, đi chơi, về nhà ngủ nữa.

Con người vui tánh nầy đã ít nói cười, mặc dầu thật ra giờ đây chàng mới thật sự yêu đời. Chưa chắc gì là những anh hề lại yêu đời và chưa chắc gì anh chàng có bộ mặt lầm lầm lì lì đang đi ngoài kia, mắt nhìn mặt đường nhựa như để tìm một đồng bạc đánh rơi, chưa chắc gì hắn là kẻ có niềm riêng u uẩn gì đâu. Sự thật thường đi trái ngược lại nữa, mấy thằng hay cười, chỉ cười để che giấu tâm sự não nùng nào, còn mấy thằng có bản mặt buồn buồn lại rất vui bên trong, chúng nó cố mà buồn, sợ người ta biết rồi xin bớt niềm vui của chúng nó chăng ?

"Ôi là nàng đẹp ! Ôi là nàng thanh cao ! Mà hễ nàng thanh cao thì nàng biết trọng sự thanh bần, nàng phục lăn cái thằng ở một căn gác xép, biết làm thơ, cái thằng ấy là nhơn vật thơ mộng của các tiểu thuyết mà nàng thường đọc và chắc chắn ngày kia, nàng sẽ can đảm thủ vai nhơn vật nữ trong loại tiểu thuyết ấy, nghĩa là từ bỏ sự giàu sang của ông cha trọc phú, ông ấy cương quyết gả ép nàng cho một viên kỹ sư chỉ biết những con số, để ra đi xây tổ ấm với người lý tưởng của nàng là chàng.


- "Phù Vân ! Em Phù Vân, em đẹp như một sợi mấy trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh ngắt tháng giêng ta của miền Nam. Có phải là em đang ngồi học bài đó chăng ? Và sau vầng trán của em, hình ảnh anh đang nổi lên ?".

Bao nhiêu thằng cô đơn, bao nhiêu thằng chán đời vì bị tình phụ trong đám bạn hữu của Lâm đều lành tâm bệnh cả, bởi cuộc đời đã mang màu hồng rồi dưới con mắt mới của họ; trong Căn Gác Hồng; trước bức tường sơn đen và khung cửa sổ tối thui không bao giờ mở ra cả.

Đời họ đã có ý nghĩa nào, một chỗ nhằm để cho họ khỏi vất vưởng như những cô hồn lạc lòng, một chỗ dựa tinh thần để lấy hứng mà làm việc.

Cả bọn sống trong hạnh phúc tưởng tượng ấy được chín tháng - thời hạn hoài thai và cưu mang của một bà mẹ - thì một hôm, một biến cố xảy đến cho riêng Lâm.

Một người bà con của của chàng, trong tình cờ câu chuyện, cho chàng biết rằng, một người quen của bác ấy có nuôi một con nhồng (yểng), loại chim nhái tiếng người giỏi nhứt, miễn là có một lớp da xù xì bọc bên ngoài lưỡi của nó. Ông ấy tìm mãi một người biết kỹ thuật lột lưỡi nhồng, nhưng chưa tìm ra.

Lâm biết kỹ thuật đó, không giỏi lắm, nhưng người Sài Gòn không ai biết cả thì chàng có thể vô địch trong thành phố nầy và thà là giúp người ta một cách không toàn bích, còn hơn để vậy thì phí con nhồng của người ta lắm.

Thế nên chàng tình nguyện làm nhà chuyên môn, và được người bà con đưa tới nhà chủ của con nhồng, năm hôm sau đó.

Tới nơi Lâm buồn cười hết sức vì cái nhà ấy không đâu lạ, đó là ngôi biệt thự áng ngữ trước căn gác xép của chàng, cái lâu đài bí mật chứa chấp nàng tiểu thơ kiều diễm mà chàng mơ gần một năm rồi.

Thật là không có sung sướng nào to hơn trong đời của Lâm. Chàng không định mơ suông trọn đời, mà rất mong mỏi một cuộc gặp gỡ tình cờ, và cuộc gặp gỡ ít hi vọng ấy lại tới bất thình lình quá, thật là ly kỳ y như trong tiểu thuyết.

Chủ nhà tử tế không chỗ nào chê, ông ấy thành thật chớ không phải chỉ xã giao để lấy lòng trong một buổi kẻ giúp ông ta đâu, vì chàng xong công việc rồi, ông ấy khẩn khoản mời chàng uống rượu, chàng không uống được rượu, ông ta nài nỉ chàng uống một chén trà ngon, rồi tha thiết khẩn cầu chàng trở lại, càng nhiều lần càng tốt, ông ấy buổi xế luôn có mặt ở nhà.

Nếu không có Phù Vân, chắc Lâm không trở lại đây làm gì, mặc dầu chủ nhà có lòng bao nhiêu đi nữa, bởi một nhà thầu khoán với chàng, hai người xa nhau vạn dặm, không nói chuyện tiền của đâu, mà chỉ nói về cái điểm tâm hồn thôi.

Vậy là chàng đã trở lại. Chủ nhà quả nhiên tử tế thật, vì bây giờ ông ấy không còn cần chàng nữa mà vẫn niềm nở tiếp đón chàng.

Ông phải cái tật lẩm cẩm, hay nói chuyện gia đạo và khoe nhà khoe cửa.

Ông ta đưa Lâm đi xem buồng tắm của ông, trong ấy có đặt bồn tắm sen hồng, giá hai trăm ngàn đồng, ông khoe cây cảnh ở sân sau, và khoe luôn cả kho hàng

Vâng, kho hàng, vì ông ta không phải là thầu khoán mà là nhà xuất nhập cảng.

Ông ta có hai người con trai, người trưởng nam làm kỹ sư cho hãng Esso, người thứ nam đi quân dịch và kỳ lạ chưa, ông ta không còn người con nào nữa hết nghĩa là ông ta không có con gái.

Nhưng cũng chẳng sao, người con gái có thể là cháu của ông, hay cháu của bà. Rất có thể là như vậy, vì là cháu nên nàng chỉ ở phía sau nhà thôi.

Kho hàng của ông xuất nhập cảng nầy là... ba căn lầu nhà bếp ! Trời ơi !

Khi Lâm được đưa lên đó, chàng nghe như quả địa cầu nổ tung ra vì một tai nạn nguyên tử nào khi thấy căn lầu giữa đầy nghẹt hàng hóa, chỉ chừa một chỗ đi nhỏ, trên lối đi ấy đặt một chiếc ghế bố (giường vải) tồi tàn và cái ông chủ lẩm cẩm nầy lại cho biết thêm một chi tiết rất là vô ích và rất tai hại, đó là chỗ ngủ của con sen.

Dưới nhà bếp, là bếp nấu ăn, buồng tắm, buồng vệ sinh và chỗ ngủ của bà bếp với lại thằng nhỏ, con sen hết chỗ nằm, nên được cho lên đây.

Lâm vội xin phép ra về ngay để soát lại vị trí của ngôi biệt thự nầy và vị trí của căn gác của chàng. Quả nhà chàng nhìn thấy nhà kia và cạnh ngôi biệt thự của ông xuất nhập cảng không còn ngôi biệt thự nào khác cả mà có thể bảo rằng chàng lầm lẫn. Hơn thế nữa, cái cửa sổ luôn luôn đóng, chàng đã nhìn thấy bên trong. Nó được trấn song sắt, và được đóng thêm bằng một cửa kiếng làm bằng pha lê gọt bông hoa màu lục.

Ảo ảnh vừa tan biến và giấc mơ chín tháng của chàng chỉ là một giấc mơ.

Lâm đứng tựa lan can gỗ nhắm mắt lại để sống giật lùi trong thời gian, sống lại những xúc động buổi đầu của chàng, sống lại những giấc mơ, những sung sướng của chàng sau buổi đầu ấy.

Những thứ ấy đều thật cả, và quả chàng đã có hạnh phúc.

Chàng bùi ngùi nhớ lại một cô Phù Vân không còn nữa, nhưng sau mấy giờ đau tương tư chàng chợt thấy rằng không cần có cô Phù Vân chàng mới sung sướng được. Một ảo ảnh đã đủ lắm rồi.

Hơn thế nữa, càng không nên có cô Phù Vân nào cả, vì nếu có, thì khi nàng lên xe hoa, chàng sẽ ra sao, hoặc nếu may mắn khó mong, chàng được nàng, rồi chán nàng thì vẻ đẹp của mối tình bông lông sẽ còn gì ?

Không, không nên có cô Phù Vân.

Mãi đến giờ phút nầy, chàng mới hiểu được một đoạn văn của một người bạn của chàng "Đi câu, đối với tôi không phải là để được cá. Đi câu là những giờ rình một tăm cá, những phút hồi hộp, nhìn cái phao chìm lần... chìm lần, nghe đầu cần câu nằng nặng".

Hỡi những anh con trai thất vọng ơi, cô Phù Vân không có, là may mắn cho các anh đó. Cô Phù Vân không có thì giấc mơ niên thiếu, giấc mơ thanh niên của các anh mới có được và mới thọ được cho tới khi các anh đầu bạc răng long. Mà hình như là các anh cần giấc mơ ấy hơn là cần một cô Phù Vân bằng xương bằng thịt.

Lâm giấu luôn sự thật với bạn hữu của chàng, không phải là vì chàng ghen với lũ nó như mấy tháng trước nữa mà vì thương lũ nó. Nếu lũ nó không tìm thấy được cái triết lý về sự cần thiết của ảo ảnh, chúng nó sẽ đau đến đâu và sẽ chán đời đến đâu ?

Cứ để cho lũ nó mơ cô Phù Vân không bao giờ có cho đẹp cuộc đời của lũ nó. Riêng chàng, chàng sẽ đi tìm một ảo ảnh khác, để mà mơ...


(Tuần báo Nghệ Thuật, 1965)     
 
(Trích từ tập truyện ngắn Diễm Phượng)
 

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2025

HÃY ĐẾN CHẬM HƠN NỮA - Võ Hồng


Mỗi năm có khoảng chừng mười lần tôi nhớ đến Hoạt. Số lần nhớ tăng theo tỷ lệ thuận với số tuổi. Rõ ràng là càng lớn tuổi người ta càng hay nhìn về quá khứ, không phải vì thích nhìn mà dường như vì người ta bắt buộc phải nhìn.

Hoạt học chung lớp vỡ lòng với tôi. Trải qua một niên khóa, anh không có đặc điểm gì khiến tôi lưu ý. Có lẽ chỉ cái tên của anh là có đôi chút đặc biệt. Chúng tôi gọi là Quạt và liền trong óc hiện hình cụ thể ra một cái quạt. Thật tiện lợi và tự nhiên. Hồi đó người ta dùng cái quạt bằng giấy phất lên trên những cái nan tre xòe ra xếp lại gọn gàng. Những kép hát bội đóng vai nịnh thần sử dụng quạt nhiều nhất, hầu như thường xuyên có cái quạt trên tay. Cái quạt biến thành vũ khí tùy thân như thời nay cái súng đánh đai trên vai người lính. Khi cần bắt khán giả lưu ý đến câu nói của mình, tên nịnh thần thường vừa nói vừa duỗi tay mặt xòe cái quạt ra, còn tay trái thì vuốt râu. Mấy cô công chúa cũng hay cầm quạt. Khi đợi người tình lang phùng gân cổ vừa trợn mắt lên hát cho hết đoạn Nam đoạn Bắc của hắn, thì nàng công chúa lợi dụng cây quạt đang cầm tay để quạt cho đỡ nực. Khán giả đâu có lưu ý chê trách một cử chỉ phản nghệ thuật như vậy bởi chính nhiều khi có thấy nàng công chúa quạt mát trên sân khấu, khán giả mới bỗng chợt nhớ đến cây quạt cầm tay của mình và thế là cả rạp hát phấp phới những cánh quạt màu trắng như những cánh bướm hoạt động. Chúng tôi đứa nào cũng có những kinh nghiệm đi coi hát bội như vậy.

Ở nhà vườn người ta dùng mo cau để cắt thành quạt. Đó là thứ quạt bền nhất, khi ngủ quên tha hồ nằm lăn lên trên và khi giận con thì trở cán mà vụt, vụt chết thôi, không sợ rách, không sợ gãy. Những người nghèo không có cây cau mọc trong vườn, không có cái vườn để cây cau mọc thì qua mùa Hè khi gió Nam tạt hơi nóng vào mặt, họ đi lượm những bẹ tre ở các bờ tre làng. Lúc bấy giờ những cây măng đã mọc cao và đốt nào vừa già đủ sức chịu đựng nắng gió thì vội cổi bỏ cái bẹ bấy lâu nay vẫn che chở nó. Các cái bẹ rớt lang thang trên mặt đường đi, được lượm lên, đem về nhà dùng dao vanh cắt thành hình quạt.

Cả một hệ thống quạt như thế dành cho sự liên tưởng của tôi.

Sau này khi lên đến lớp Tư, Hoạt dẫn một đứa em của anh đến xin học. Tên nó là Bác. Chúng tôi sắp sửa liên tưởng đến “cái chén”, - chúng tôi là dân miền Nam nên chuyên môn đọc sai những chữ tận cùng bằng T, C, có G và không G, - thì thầy giáo gật gù bảo Hoạt:

- Ai bày cha mày đặt tên là “Hoạt bác”?

Hoạt lí nhí:

- Dạ thưa thầy con không biết.

Thầy quay lại chúng tôi:

- Đố các trò “Hoạt bác” là gì?

Nhiều đứa rúc rích cười thích thú nhưng không dám giơ tay xin nói. Chắc đứa nào cũng có một lối giảng nghĩa như nhau. Đợi lâu không thấy đứa nào xung phong, thầy chỉ ngay thằng Lăng.

Lăng đứng dậy:

- Dạ thưa thầy là mình quạt cho Bác mình, là trời nóng Bác mình sai mình quạt cho ổng mát…

Cách giải thích thật bất ngờ, và “ông Bác” thì cũng cụ thể dễ tưởng tượng như “cái chén” nên cả lớp cười rộ lên. Thầy cũng cười theo.

- Các trò dốt. “Hoạt bác” là chữ Nho. Nghĩa là ăn nói trôi chảy, ai hỏi đâu trả lời đó.

Hoạt không ăn nói trôi chảy, thông thạo như y nghĩa của cái tên anh. Thầy kêu lên đọc bài thì anh cà kê chỉ một câu đầu, lặp lại mỗi chữ đến năm, bảy lần rồi đứng khựng. Lúc bấy giờ ngón tay cái của anh làm việc tay cái lưỡi. Anh thọc ngón tay vào lỗ bàn chỗ dành gài gô-đê mực và cứ thọc vô rút ra. Thầy hỏi:

- Ai biểu mày nạo lỗ gô-đê?

Anh ngước mặt lên ngớ ngẩn hỏi:

- Dạ? Dạ thầy sai con nạo cái gì?

Trời ơi! Ngu ơi là ngu! Đến giờ chơi chúng tôi bao vây anh để hành hạ tiếp.

- Hồi nãy thầy sai anh nạo cái gì vậy?

- Tao đâu có biết? Ổng nói tao không nghe, tao hỏi lại ổng không nói.

- Chiều nay mà anh không nạo xong thì chết anh.

- Tao biết nạo cái gì?

- Sao không hỏi lại cho rõ?

- Hỏi rồi mà không nói.

- Kệ anh. Chiều nay bị đòn kệ xác anh.

Chiều đó Hoạt trốn học. Thầy sai bốn anh sức vóc lực lưỡng đến nhà bắt. Tìm khắp nhà trên tìm xuống nhà bếp. Mẹ anh nói:

- Uở lạ. Nó có ôm sách vở đội mũ xách ve mực đi học rõ ràng mà. Chớ đi đâu mà không tới trường?

Cha anh chậm rãi nói từng tiếng:

- Thằng nhỏ giấu vở đi chơi ở đâu rồi be. Chắc theo lũ thằng Bạch thằng Trinh đi đánh trổng hay đi bắt chim.

- Ông mới đánh nứt đít hôm kia, chắc bữa nay không dám, - lời mẹ anh.

- Nó sợ ai mà không dám?

Xem chừng cuộc đối thoại dài nhằm không giúp ích gì cho cuộc sưu sách phạm nhân, bốn vệ sĩ đi lần ra sân sau, lục lọi từng bụi chuối, từng đống củi. Vẫn không tung tích. Bốn người thả bộ về chuồng bò. Con Xe con Pháo nghểnh cái mặt dài đuỗng lên ngó, miệng ngồm ngoàm nhai, đuôi quất lia lịa lên sườn lên lưng.

- Thằng này coi vậy mà biến hóa như thần, - một đứa nói.

- Nó dám biến làm con ruồi lắm. Hồi hôm dượng Năm tao đọc truyện Tây Du cho bà Nội tao nghe có đoạn ông Tề Thiên biến làm con muỗi, - một đứa trả lời.

- Biến làm con bò chắc ăn hơn. Biến làm con ruồi con muỗi, lỡ con bò nó quất đuôi trúng một cái chết nhăn răng.

Miệng nói mắt dòm, tay cầm cây củi đập vu vơ lên cây róng chuồng bò, lên đống rơm để dành bỏ cho bò ăn.

Chợt đống rơm vùng dậy. Một bóng đen vụt trồi lên. Anh Hoạt. Rơm dính đầy đầu, rơm ghim đầy áo, anh phóng một sải rồi chạy u một mạch vượt vuông sân, vượt luôn đám đất xanh um những vồng khoai lang, nhảy thoát qua bờ rào, biến mất. Những cọng rơm bị phủi bay còn lượn lững lờ trước khi rơi xuống đất. Anh Khóa, một vệ sĩ giật mình đứng khựng.

- May thằng này không có võ. Nếu không thì nó đã cho tao một đá, bể bong bóng để chạy thoát thân.

- Mày dở quá. Chớ cây củi cầm trên tay làm chi? Phang cho nó một đòn.

Đại để đó là những kỷ niệm Hoạt đã gởi lại trong trí nhớ của tôi.

Sau khi học xong hết lớp Tư thì chúng tôi xa cách nhau. Tôi lên trên trường Phủ, trường Tỉnh học tiếp còn Hoạt thì trở về nhà thừa kế công việc của cha anh để sau này tiến lên thay thế.

Sau đó chừng bốn, năm năm, một hôm không nhớ đang nói chuyện gì bỗng một người bạn nhắc đến Hoạt. Giọng nói đang to chợt nhỏ đi, thì thầm như một tâm sự.

- … nó bị phung.

Không ai được chuẩn bị để nghe tin đó nên ai nấy đều có cảm tưởng mình vừa rùng mình. Chừng như người ta có quyền mắc một trăm thứ bệnh khác, điều đó không khiến ai ngạc nhiên, chứ bệnh phung thì không thể tưởng tượng được.

- Cha nó phải dựng một cái chòi ở giữa đám dưa hấu ngoài soi để giấu nó ngoài đó, - lời người bạn kể. Nhưng lâu ngày rồi cũng bị lộ. Có người đâm đơn xuống Huyện. Nhà nước tới bắt chở đi…

Không ai tìm hỏi xem “Nhà nước” là cơ quan nào và anh bị chở đi đâu. Cái tai họa lớn quá, quá tầm lo lắng của sức người nên ai cũng chỉ nghe rồi chép miệng rồi thôi. Y như khi nghe tin một người đã từ trần. Chắc chắn không ai hỏi xem linh hồn người đó đang đi về hướng nào, Thiên đường hay Địa ngục. Sức người dừng lại ở hơi thở hắt ra, bất lực đầu hàng và tiếp sau đó là phần việc của Phật, của Chúa, của Allah. Coi như là chúng tôi đã trao việc vào tay của Thượng đế rồi vậy.

Năm tháng dần trôi, những người bạn của tôi và tôi đều lớn lên, đứa nào cũng được quây quần bởi một gia đình, như cây keo, cây me, cây sầu đông khi đứng tuổi sức vóc vững vàng thì bao giờ cũng có nhiều cây con đứng xúm xít xung quanh. Có những cây con mơn mởn vượt cao ngang tầm ngực của cây mẹ, - mười tám, hai mươi tuổi rồi đó, - có những cây mảnh mai yếu đuối rụt rè chìa được đôi cành, - chín, mười tuổi, - và có những cây mới nhú từ mặt đất, nhỏ nhoi ngơ ngác. Tôi thấy đứa bạn nào cũng trở nên nghiêm trang và nhiều đứa nghiêm trang một cách thái quá đến độ buồn cười. Đứa nào cũng đột nhiên tăng giá trị, thứ giá trị được dán thêm do những đứa con mang lại. Thằng Phong có đứa con đầu lòng làm tới Đại úy công binh. Nó không cần phải tham nhũng mà nhà đầy xi măng, đầy sắt. Đứa con út của nó khi mặc quần đùi thì để lộ cặp chân to và đen, vạm vỡ như cặp chân voi. Thằng Lào có hai người rể, một tên làm Quận trưởng, một tên làm Thiếu úy Trợ y. Vân vân. Được “Dạ” bởi những sĩ quan và cán bộ Hành chánh như thế, được nể nang bởi những bắp thịt hùng hậu như vậy, được đặt lên trên đầu của lũ cháu nội cháu ngoại, các người bạn may mắn của tôi thật có dư lý lẽ để hãnh diện. Những lúc đó tôi nhớ đến Hoạt. Sao bao nhiêu khổ đau lại chỉ dành cho anh? Bao nhiêu nhức nhối vật chất, giá lạnh tâm hồn lại dành tặng cho riêng một anh? Bây giờ anh ở nơi nào? Còn sống hay đã chết? Tôi có ý nghĩ là anh đã chết rồi, quằn quại nhiều ngày trên giường bệnh, cô đơn hơn bất cứ một người hấp hối nào. Sự xót thương và những ý nghĩ đó in sâu vào óc tôi đến nỗi có lần gặp cha mẹ anh mà tôi không hề dám hỏi tin tức anh. Thậm chí gặp bạn bè mà tôi cũng không dám hỏi nữa. Tôi sợ phải nghe một câu trẻ lời, chẳng hạn: “Nó chết hơn hai mươi năm nay rồi mà mày chưa biết!” Lúc đó tôi sẽ thấy mình là tên vô nghĩa bạc tình và tôi đành tìm một lẽ để bào chữa: Có biết được sự thực hay không cũng vô ích. Nó không giúp đỡ cho anh được chút nào. Còn đối với cha mẹ anh thì chỉ khơi một mối buồn. Tốt hơn hết là để cho quên đi.

Vì quả thật vậy, mỗi lần gặp mẹ anh, tôi có cảm tưởng như bà đang âm thầm nghĩ đến đứa con bất hạnh của bà. Trên vai bà thường có một gánh nặng, lúc thì một gánh bông, lúc thì một gánh đường và bà lầm lũi bước, mắt nhìn xuống đất. Tôi không lần nào gặp bà đứng nói chuyện với ai để được nhìn một nụ cười làm tươi ánh mắt. Mà dường như thường trực đó là một khuôn mặt đăm chiêu, cằn cỗi, đối thoại âm thầm với mặt đường sỏi đá, xơ xác cỏ khô.

Anh có một người em gái nước da ngâm đen nhưng có sắc đẹp mặn mà. Hai đường chân mày dài và cong che một đôi mắt đen mở rộng. Cái mũi thẳng và đôi mắt sắc sảo. Vài đứa bạn của tôi mê người em gái anh và tôi không hiểu khi ngồi kề cái khuôn mặt xinh xắn đó, cầm hai bàn tay mảnh mai đó, họ có liên tưởng đến khuôn mặt và bàn tay của anh chăng? Riêng tôi thì sau khi xa cách anh chừng năm, bảy năm tôi quên dần những nét trên khuôn mặt anh để dần dần thay vào đó bằng những nét của cô em. Dường như có một sự tranh giành nào đó, một sự thỏa nhượng nào đó, một sự xê dịch lặng lẽ của hai khuôn mặt nhằm thay thế và phản ứng lại sự thay thế. Có khi hai khuôn mặt hiện ra chập chờn và cuối cùng bao giờ tôi cũng nghiêng về cô em của anh hơn, đôi con mắt đen và hai đường chân mày dài thu hút dần tâm hồn của tôi.

Gần đây do một ngẫu nhiên mà tôi được tiếp xúc với một sư huynh quản đốc một viện bài cùi.

- Bệnh cùi, - lời vị sư huynh, - chúng tôi chữa lành được. Có nhiều bằng chứng cụ thể, có những tấm ảnh chúng tôi còn giữ lại để làm tài liệu, tấm ảnh chụp người bệnh khi nhập viện và khi xuất viện.

Tôi dè dặt trong cuộc đối thoại:

- Người ta nói rằng thuốc Sulfon chỉ giữ cho bệnh không tăng thêm chứ chưa thể…

- Không phải vậy. Tôi lấy mấy trường hợp này coi như là cụ thể nhất: có mấy sĩ quan đang chiến đấu thì bị phát giác là mắc bệnh. Thử máu, đúng là có vi trùng. Cho nhập viện để chúng tôi chữa. Sau sáu tháng hay một năm, hay hai năm, tùy bệnh nặng nhẹ, họ lành mạnh trở lại. Thử máu, thấy hết vi trùng, chúng tôi trả họ lại cho đơn vị và hiện họ đang tiếp tục đánh giặc.

- Chắc phải thử máu rất nhiều lần mới có thể kết luận…

- Tôi hiểu sự hoài nghi của ông. Cố nhiên là khoa học có nhiệm vụ và có khả năng đi tới không ngừng và như vậy nghĩa là ở chặng đường nào chúng ta cũng chỉ biết được sự thật tương đối. Thôi, tôi xin đưa những trường hợp khác, những sự thật nó nhảy thẳng vào mắt mình không cần viện dẫn đến kiểm chứng khoa học. Có một nữ bệnh nhân khi nhập viện thì bệnh đã tàn phá cơ thể, lở lói cả lưng và trạng thái suy nhược đến nỗi chị ta đã xin dọn mình để chết. Chúng tôi nhẫn nại chữa. Kết quả là hôm nay chị đã khỏe mạnh và hiện chị gánh đôi thùng nước chạy vù vù. Hôm nào mời ông qua Viện, tôi xin giới thiệu cho ông gặp:

- Nếu được biết sự công hiệu của thuốc chữa như vậy thì chắc những người mới mắc bệnh không đến nỗi vừa trốn tránh vừa tuyệt vọng như chúng ta vẫn nghe nói.

- Vâng, họ trốn tránh vì họ không biết là chúng tôi chữa lành được bệnh. Có người mắc bệnh cứ nằm trốn trên lầu. Tôi tới tìm gặp khuyên nên đến với chúng tôi để chúng tôi lo chạy chữa săn sóc cho thì tôi bị mắng tơi bời. Bệnh nhân nói rằng chúng tôi vu khống để làm hại uy tín của họ, rằng những vết sần sùi trên mặt trên tay chỉ là kết quả của chứng đau gan mà họ đang chữa. Cố nhiên là chúng tôi phải hết sức nhẫn nại trong việc thuyết phục.

- Trong khi đó thì có những bệnh nhân lén bỏ Viện trốn đi…

- Số đó vẫn có. Ngoài những nguyên nhân tâm lý dị biệt còn có nguyên nhân này dễ giải thích: đó là thuốc Sulfon khi mới uống thì nó hành hạ bệnh nhân dữ lắm. Phải trì chí, phải chịu khó… Nhiều người sau khi chữa lành bệnh không muốn dời viện về nhà. Họ ở lại giúp tay chúng tôi, xây dựng gia đình và họ sinh những đứa con khỏe mạnh xinh xắn.

- Những thành công tốt đẹp trong việc chữa bệnh cùi như vậy, đáng lẽ phải được phổ biến rộng rãi cho nhiều người biết, cho những người lỡ mắc bệnh biết mà tin tưởng, cho những người chưa mắc bệnh biết mà an tâm. Cổ nhân ta bảo rằng “Phong, lao, cổ, lại tứ chứng nan y”. Tuy nói là “nan y” nhưng có thể coi như là “tuyệt vọng”.

- Chúng tôi có một nguyệt san để phổ biến những kinh nghiệm và những thành quả chữa bệnh của Viện chúng tôi. Có một buổi phát thanh ở đài Vô tuyến truyền thanh địa phương.

- Tuy vậy nhưng dường như sự phổ biến không được rộng bao nhiêu. Người ta vẫn còn giữ những ngộ nhận về bệnh cùi, nhất là cái số phận bi thảm dành cho những bệnh nhân vào thời Trung cổ mà các cuốn sử Tây phương đã chép lại. Tôi nhớ hình như các bệnh nhân thời đó phải che trại ở trên núi và mỗi lần cần phải di chuyển thì tự họ phải rung chuông đánh kiểng cho những ai vô tình ở gần đó phải chạy lánh đi. Hãy tưởng tượng bao nhiêu nỗi cô đơn, bao nhiêu khổ đau tinh thần họ phải nếm hàng ngày ngoài những khổ đau vật chất.

- Vì vậy cho nên việc tập trung sống vào một nơi, cạnh những người đồng cảnh ngộ và cạnh những người chạy chữa và giúp đỡ họ, việc đó an ủi tinh thần của họ nhiều lắm. Thỉnh thoảng có những cá nhân đồng bào hay đoàn thể tư nhân tới thăm và giúp đỡ bằng tiền bạc hay phẩm vật. Có những đoàn thanh niên du ca tới trình diễn ca nhạc để cho họ giải trí.

- Tôi tưởng người ta có thể làm hơn…

- Có vậy. Ông Raoul Follerau đã nhiều lần kêu gọi lương tâm nhân loại. Chỉ cần tiết giảm chiến tranh là có dư tiền để biến cải cuộc đời những người cùi trên thế giới, những người mắc các chứng bệnh hiểm nghèo khác, những người nghèo nàn. Ông kêu gọi các nước hãy góp số tiền chiến phí một ngày để cứu bệnh, cứu đói và cứu khổ. Một ngày chiến phí tối thiểu là năm trăm triệu đô la. Để tiền mua một hàng không mẫu hạm, người ta có thể nuôi sống 400.000 người trong một năm. Để tiền sắm một chiếc tàu ngầm, người ta có thể mua 50.000 tấn thịt phát cho người đói. Để tiền trang bị cho một sư đoàn thiết giáp, người ta có thể xây 32.000 căn nhà, mỗi căn có 4 phòng.

- Lời kêu gọi đó đã được hưởng ứng?

- Hiện đã có một triệu rưỡi chữ ký của thanh niên 105 nước ủng hộ, mười ba vị quốc trưởng, 29 chính phủ tán thành. Không sớm thì muộn, nhân loại cũng sẽ có ngày chợt tỉnh.

- Công cuộc của Viện ông phải được quảng đại quần chúng biết và góp phần giúp đỡ. Ai cũng có thể mắc bệnh cùi. Tưởng tượng rằng một ngày kia mình lỡ mắc phải bệnh và những người xung quanh mình sẽ đãi ngộ mình với con mắt nào, cho dù là những người thân yêu nhất của mình! Tôi nghĩ rằng ai cũng mềm lòng trước những đồng bào ít may mắn đang gánh chịu những tai họa thay cho mình.

Vị Tu sĩ cười:

- Ông còn ngây thơ. Cũng có người biết trực tiếp lợi dụng chúng tôi. Những phẩm vật, những máy móc do các cơ quan từ thiện quốc tế viện trợ…

Tôi không đủ can đảm nghe hết câu. Cái điệp khúc đó quen thuộc quá như những hành khúc buổi sáng có “Tiến lên nào! Nào vùng lên! Hăng hái xông pha! Anh em ta cùng tiến lên!” Tôi không muốn câu chuyện lại sang mục tham nhũng. Đã có chính phủ, báo chí và đài phát thanh nói tới nhiều rồi. Tôi đang vui vẻ vì loài người có những Raoul Follereau, những Fromm, Wittmann đã khổ công tìm ra DDS… Tôi đang vui vì có những mùa xuân học sinh bỏ lệ ăn liên hoan để lấy tiền giúp đồng bào bệnh nhân ở viện bài cùi. Tôi nghĩ đến vô số những trường Tiểu học, những trường Trung học trong toàn quốc. Nếu các em đều dẹp bỏ những cuộc ăn uống không cần thiết như vậy! Nếu những người lớn cũng dẹp bỏ những món xài phí vô ích, những cành đào cành mai giá đến mười ngàn đồng, những vé thượng hạng một ngàn năm trăm đồng đi xem Đại nhạc hội có vũ khúc sexy, có trình bày Hoa hậu thời trang.

- Nhân loại rồi sẽ có ngày chợt tỉnh, - vị tu sĩ lẩm nhẩm nói.

Tôi nghĩ đến Hoạt liền ngay lúc đó và những ngày sau đó. Sao anh sinh ra đời chi sớm những ba mươi năm? Có gì đâu để mà vội vàng? Anh đã hưởng được gì ở cuộc đời? Nghe một tiếng chim tu hú vào đầu mùa Hè, ngửi một mùi thơm của hoa mù u trong buổi chiều, nhìn những con chuồn chuồn đảo lộn trên nền trời sau cơn mưa… những niềm vui đó quá nhỏ so với nỗi khổ đè nặng của anh. Giá cứ thong thả, giá cứ đến chậm chậm một chút để kịp cho nhân loại dọn dẹp bớt những khổ não. Giá anh sống lùi lại ba mươi năm, năm mươi năm thì anh sẽ cởi bỏ được dễ dàng niềm đau thân xác, chận đứng và xóa đi những vết tàn phá. Dẫu hết sức lạc quan, tôi cũng không mảy may hy vọng anh sống sót đến ngày hôm nay, cho nên mặc dù tôi có thể nhờ tra cứu sổ bộ xem anh đã sống ở viện bài cùi nào, bệnh chứng của anh tăng giảm như thế nào trong những năm xa xôi của dĩ vãng, tôi cũng thấy tôi nên tự ngăn cản mình đừng quấy rầy những cuốn sổ đã nằm im dưới nhiều lớp bụi. Trong cuộc sống trần gian, giữa những đau đớn vật chất và tinh thần, chắc chắn anh không thể nào nghĩ rằng tôi lại có nhiều hồi ngồi nhớ đến anh. Anh tưởng mọi người đã quên anh rồi, trừ cha mẹ và cô em gái, trừ những người bà con và láng giềng trực tiếp của anh. Anh có ngờ đâu rằng anh vẫn hiện diện đó trong tâm hồn tôi, lúc thì nhường chỗ cho những hình bóng khác, lúc thì độc chiếm trọn vẹn, anh, cái dáng ngây thơ âu sầu của những ngày nhỏ dại chừng như không thay đổi, không hề thay đổi bởi bệnh tật và thời gian.

 
(Trích từ tập truyện ngắn Trầm Mặc Cây Rừng)
 

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2025

NHỮNG ĐỨA CON THƯƠNG CỦA ĐẤT MẸ - Bình Nguyên Lộc


Họ gặp nhau trong mùa nghỉ mát năm ngoái, và hôm trước tết, họ bàn tính với nhau là hết mùa nghỉ mát năm nay, họ sẽ làm lễ thành hôn với nhau. Đời bây giờ mà để ra tới những mười hai tháng để tìm hiểu nhau thì quả cặp Tuấn - Lucie Minh dè dặt có một không hai. Chỉ hơi phiền là hôm lễ Phục sinh hai người đi hai ngả: Lucie Minh lên Đà lạt, còn Tuấn thì đi Vũng tàu. Tại mỗi người, ai đều có hứng riêng của nấy, mà không ai có bổn phận phải chiều ý ai trong một việc không đáng kể như vậy. Vả lại, cả hai, không ai trẻ con cả thì không thể vì thế mà họ giận nhau. Nói "chỉ phiền" là vì đó là nguồn gốc của sự đoạn tuyệt của họ về sau nầy.


Hôm ấy Tuấn ra tới Vũng tàu thì đã bốn giờ chiều. Tắm cái đã rồi hẵng hay. Chàng tắm cho đến năm giờ rưỡi, lên giải khát, xong đâu đó mới đi thuê buồng khách sạn. Không còn buồng nào cả. Nhưng anh con trai nầy không lo, cứ ăn cơm tối cái đã "rồi hẵng hay". "Rồi hẵng hay" là câu châm ngôn cửa miệng của Tuấn, mỗi lần có gì giải quyết không được, chàng dẹp nó lại, làm việc khác hoặc đi chơi, sau khi nói mấy tiếng ấy, nói to lên, hay nói thầm với mình.

Chàng không lo, không phải chàng có thể ngủ trên bãi cát như bao nhiêu người khác. Đó là những người ra đây bằng xe nhà, có thể mang theo những tấm bố lớn để trải ra mà nằm lên đó, chớ chàng thì chàng chỉ có một chiếc va-ly con đựng mu-xoa, một chiếc sà-roong, bàn chải đánh răng, hai chiếc áo tắm, và cái khăn bông. Y phục, chàng chỉ có một bộ trên người may bằng vải không nhầu, như vậy cho nhẹ bưng xách dọc đường. Tuấn không lo vì trong thành phố, ngoài mấy mươi khách sạn mang bảng hiệu và có đóng thuế môn bài, còn mấy mươi biệt thự của tư nhơn, của những ông nhà giàu suy sụp, họ biến thành phòng ngủ lậu ngôi biệt thự của họ, và thế nào chàng cũng sẽ tìm được một buồng, một cách dễ dàng, nhờ bọn trung gian chuyên môn là mấy anh phu xích-lô.

Quả thật thế, ăn cơm rồi, Tuấn thuê ghế dài mà nằm hóng mát cho tới lúc việc tiêu hóa gần xong mới thót lên một chiếc xích-lô đạp, nói lên ý muốn của chàng là anh phu xe "ô-kê" ngay. Mấy anh nầy nhận tiền thưởng phòng ngủ lậu ở đây, nên họ rất thạo tin tức, biết số buồng trống từng giờ, từng phút. Tuy nhiên đó là những kẻ nguy hiểm mà mười lăm phút sau Tuấn mới biết. Anh phu xe nầy đưa chàng tới một nơi rất là bê bối. Đã khuya rồi chàng đành nhận vậy, vả tìm anh phu xe khác, sợ anh ta còn lưu manh hơn anh nầy thì hóa ra chạy ô mồ mắc ô mả.

Cái nhà ngủ lậu nầy ắt hẳn cho hoa hồng nhiều lắm và chắc chắn đã có nhiều người đi nghỉ mát rơi vào cạm bẫy rồi. Đó là một ngôi biệt thự xưa, một trụ cổng xi-măng đổ nát, rất có vẻ hoang tàn, trụ còn đứng vững mang một tấm bảng nhỏ đề chữ "Biệt thự Mỹ Phúc". Tuấn chợt nhớ đến cái nhà mát của hội "bảo vệ luân lý" mà năm xưa chàng leo thang lầu thì cái thang rung rinh mà cả ngôi nhà cũng rung rinh tuốt. Được cái là "biệt thự Mỹ Phúc" không có lầu nên chàng an dạ rằng cho tới ngày về Sài gòn, giò và tay, cổ chàng sẽ còn nguyên vẹn vì khỏi lo nhà sập như cái nhà mát say rượu đằng kia. Ở đây, buồng người ta lấy trăm rưởi mỗi ngày, kể ra thì rất mắc đối với buồng khách sạn có đủ mọi tiện nghi mà chỉ phải trả có hai trăm rưởi thôi. Nhưng thôi cũng được. Sự im lặng hoàn toàn ở đây an ủi Tuấn dữ lắm. Sân rộng có trồng nhãn, các buồng thì đóng cửa kín mít và không nghe tiếng động, nhà lại chỉ cách bãi biển có hơn trăm thước thôi. Bồi phòng là một phụ nữ lai căng, cha Phi châu, mẹ Việt nam, ăn nói văn hoa như tiểu thuyết ba xu, nhưng Tuấn lại nghe hay hay. Không có gì buồn cười bằng một người nước da đen huyền, tóc quăn quíu một cách tự nhiên, đôi môi dày như hai chiếc bánh trôi nước, đôi hàm răng lại trắng như bột, mà nói "Trong trường hợp có gì làm thầy không được thỏa mãn, xin thầy cứ khiển trách em để em sửa sai".

Sáng ra, Tuấn dậy rất trưa, sắp sửa đi tắm và ra khỏi buồng chàng thì chàng thấy rất đông quân nhân Huê kỳ từ nhà nầy đi ra. Sự kiện nầy cắt nghĩa ngay vẻ im lìm đêm rồi. Tuấn rất biết phong tục của người da trắng, họ rất lịch sự ở những nhà chung cư, đóng cửa kín mít và nhất là đi đứng, nói năng thật nhẹ, sợ mích lòng láng giềng.

Thình lình Tuấn nghe xây xẩm mặt mày, rồi chàng choáng váng, lảo đảo muốn ngã. Chàng vội vã trở vào phòng mình nằm. Tuấn bị chứng áp huyết thấp từ mấy tháng nay, nên cơn khó nầy không làm chàng hoảng. Chàng sẽ uống thuốc, uống cà phê đen là khỏi ngay. Tuy nhiên, dầu sao cũng phải nằm cái đã, "rồi hẵng hay".

Lạ quá, ngôi biệt thự lặng lẽ như chùa Bà Đanh từ hồi đầu hôm tới giờ, bỗng nhiên hóa thành một cái chợ, và tiếng phụ nữ nói líu lo ngoài hành lang, gọi nhau, đáp nhau từ buồng này qua buồng khác, khiến Tuấn bực mình quá: đến lúc cần yên tĩnh để nghỉ ngơi thì thiên hạ họp chợ. Chị bồi phòng da đen bưng vào cho chàng một bình trà nóng rồi hỏi:

- Thầy uống cà-phê không, em đi mua cho?

- Đáng lý thì không, tôi sắp sửa đi uống ở ngoài, rồi tắm luôn thể, nhưng giờ, vì một lẽ riêng, tôi lại cần cà-phê đen. Vậy chị mua giùm tôi năm đồng. Đây, lấy mười đồng đây rồi cất luôn tiền lẻ mà ăn bánh.

Tuấn uống thuốc với nước trà nóng, và nằm nghỉ nên năm phút sau thì nghe đỡ. Chị bồi phòng cũng vừa về tới nơi, và ly cà phê đậm nầy sẽ làm cho áp huyết của chàng lên tới mực thường. Chàng khoan khoái ngồi dậy rồi hỏi:

- Ai mà làm ồn như vỡ chợ vậy chị?

- À, mấy cô!

- Mấy cô nào?

- Mấy cô vợ Huê kỳ ấy.

- Có tất cả tới bao nhiêu cô lận?

- Nhà nầy ngăn ra làm mười bốn buồng, mà có tới chín ông Huê kỳ có vợ, mướn tháng.

- Hèn chi! Họ mướn tháng có cao giá lắm không?

- Hai ngàn rưởi.

- Thôi, cám ơn chị, tôi không còn cần gì nữa cả.

Uống hết ly cà-phê, Tuấn ngồi một hơi thì nghe trong người trở lại bình thường. Nhưng chàng lại bực mình hơn. Khi nãy, đi qua các phòng đóng cửa, chàng nghe từ phòng nào cũng vẳng ra tiếng dạy bài học Anh ngữ đọc chậm, của máy thu thanh. Nhưng giờ thì cả chín cái máy thu thanh ấy đều thi đua hét to lên bài ca Vọng cổ trào lộng do nghệ sĩ Văn Hường ca. Tuấn vốn không ưa Vọng cổ vì điệu nhạc ấy buồn thảm quá, mà nhạc buồn lại ca bằng lời giễu cợt thì nó chói tai chàng không biết bao nhiêu. Nhứt là vì các chủ máy thu thanh lại mở hết cường độ, và có lẽ đã mở hết cửa buồng ra, nên nó ồn như chợ Cầu ông lãnh.

Để trốn không khí điên loạn nầy, chàng quyết định đi tắm. Khi Tuấn ra tới đầu hành lang thì một cảnh tượng bắt chàng dừng chơn lại: Chín cô me Huê kỳ đang xúm xít ăn chả giò với lại ăn bánh xèo điểm tâm mà hai chị hàng rong gánh vào nhà lúc nào chàng không hay. Các cô ăn chả giò, cô nào cũng ngốn rau xọp và rau chiết, độn no hai má, y như là loài khỉ, còn các cô ăn bánh xèo thì chảy nước mắt sống với lại le lưỡi vì nước mắm chanh làm riêng để ăn bánh xèo rất cay, cay như cà-ry Ấn độ chứ không phải vừa. Tuấn bật cười, đứng nhìn các me ăn rồi hỏi:

- Có ngon không quí cô?

Không có me nào đẹp cả. Nhưng tất cả đều thạo ma-ky-dê, thạo ăn mặc, nên trông cũng dễ coi. Họ cười đáp:

- Ngon ghê đi. Mời thầy ăn thử.

- Cám ơn quí cô. Nhưng sao quí cô không ăn với các ổng?

- Úy mẹ ơi, ai mà ăn với tụi "nó" cho được. Nó ăn sáng tợn lắm, ăn nhiều nhứt trong các bữa ăn trong ngày, mà chỉ ăn toàn đồ hộp thôi, tụi tui nuốt hổng vô.

- Té ra vợ chồng ăn riêng với nhau?

- Chỉ riêng có bữa sáng nầy và bữa trưa thôi.

- Trưa cũng ăn riêng?

- Ừ, trưa tụi "nó" không về, tụi tôi ăn cơm tháng của chị bồi đen.

Từ nãy giờ, nhiều cô thay phiên nhau mà đáp các câu hỏi của Tuấn, nhưng cô nào cũng gọi chồng bằng "nó" cả.

- Còn buổi tối? - Tuấn hỏi.

- Buổi tối thì tụi nầy buộc lòng phải ăn chung với tụi nó, nhưng cũng nuốt không vô, nên tụi nầy nhõng nhẽo đòi đi ăn tiệm ở ngoài. Đồ tây ở các hiệu ăn thì tạm nuốt được.

Tuấn mặc áo tắm. Vì nhà gần bãi nên chàng ăn mặc như vậy để khỏi mất công thay, không đoán trước được rằng phải ghé lại để nói chuyện với phụ nữ. Nếu như ở ngoài bãi thì không có gì đáng nói, nhưng ở đây, ăn mặc như vậy trước những người đàn bà áo quần kín đáo thì vô lễ lắm. Thoạt tiên, chàng rất ngượng, nhưng vì chàng khinh rẻ me Huê kỳ cũng như đã khinh rẻ me Tây trước đây, nên rồi chàng dễ chịu được như thường. Cả chín cô đều vui vẻ và đều thích nói chuyện với chàng, nên chàng lại hỏi:

- Cả ngày quí cô làm gì? Có buồn lắm không?

- Buồn bỏ mẹ! Đánh tứ sắc để giết thì giờ, nhưng đánh hoài cũng phát ngấy lên.

- Như vậy, chắc quí cô mong đợi các ổng từng giây, từng phút?

- Đâu có, bồ! - Cái cô tương đối đẹp hơn hết trong bọn đáp như vậy - Lũ nó về, tụi nầy còn khổ hơn.

- Chàng về thì chàng cưng mà lại khổ, bồ nói khó tin quá! Không yêu chàng à?

- Bồ không biết, chớ khổ bỏ mẹ đi. Có lũ nó thì sáng với lại tối phải học Ăng-lê đọc chậm...

- Thì phải học mới tâm tình với nhau được chớ!

- Đâu có cần. Tụi nầy chỉ biết bốn tiếng là đủ sức làm ăn.

- Bốn tiếng nào?

- Tiếng Yết, tiếng Nô, và hai tiếng Đô-la, Ô-kê.

- Đô-la Ô-kê là gì?

- Là lu bù thứ. Chẳng hạn: anh có tiền không? Và chẳng hạn: anh cho em tiền được chớ? Bồ dư biết rằng muốn theo các bài đọc Anh ngữ đọc chậm, phải có căn bản tới mức nào đó, chớ tụi nầy mít đặc, làm sao theo được.

- Hình như là bồ chưa kể hết mọi nỗi khổ?

Họ xưng hô với nhau bằng "bồ", Tuấn không buồn thay đổi, và ăn nói theo họ để gây tín nhiệm hầu được họ tâm sự nhiều.

- Ừ, chưa hề. Còn cái nạn đóng cửa nữa. Mình quen ở nhà tranh, nhà lá vách vỉ tre đan, trống trơn rất dễ thở, chúng nó giữ mình trong buồng kín mít, mình sẽ chín như trái cây mất. Mà bồ đừng tưởng là lũ chúng nó ghen, sợ bồ thấy dung nhan cá đắm nhạn sa của tụi tui. Không, tại phong tục của lũ nó như vậy. Lũ nó bảo rằng để cho người ta thấy cảnh sống thân mật của mình là vô lễ mà rủi ro thấy cảnh sống thân mật của ai cũng vô lễ nữa. Bồ có nhớ hay không rằng hồi hôm, bồ tới, quên đóng cửa buồng lại, thằng chồng của con Cúc nó phải đi ngang qua buồng của bồ, nhưng không dám đi, phải đánh một vòng thật lớn để tránh cái cửa mở của bồ.

Quả Tuấn nhớ có nghe tiếng giầy đi tới gần cửa buồng chàng rồi dừng lại, do dự vài giây, đoạn thối lui.

- Ừ, tục đó thì tôi biết. Mà đó là nếp tốt của họ, bồ rán mà theo.

- Ai thèm rán mà theo. Cứ mở banh cửa ra có phải dễ chịu hơn không.

- Còn nỗi khổ nào?

- Lu bù, nói sao cho hết. Khổ nhất là nhạc, phải nghe nhạc của lũ đó. Tụi nầy chỉ mê Vọng cổ của đài Sài gòn thôi, còn lũ nó thì vặn bắt nhạc trời đánh của đài nào không rõ, điếc tai, nhức óc quá trời. Lũ nó ngu ngốc lắm. Sắm ra-dô thì sắm thứ lớn, nhưng mở nghe nhạc thì mở thật nhỏ, làm như là sợ láng giềng nghe trộm hết nhạc của lũ nó.

Tuấn bật cười, rồi cười ha hả rất dài. Thì ra bọn nầy trả thù đây: ăn bánh xèo với nước mắm chanh ớt để trả thù thịt đóng hộp, mở bét cửa ra để trả thù tục bế môn, và cho ra-dô hét to bản Vọng cổ để trả thù sự thầm thì của nhạc đài. Một cô, nãy giờ rất ít nói, không đẹp, nhưng có cái gì đặc biệt vô cùng, rất khó tả ra, bây giờ mới mở lời:

- Thầy có xem cái phim gì mà câu chuyện xảy ra ở Ấn độ trong có động đất dữ dội, có nước lụt, có săn cọp hay không?

- Có, đó là phim "Gió Mùa".

- Trong đó, một kép Huê kỳ hỏi một kép Huê kỳ khác, khi họ nghe một giàn nhạc Ấn độ đại tấu:

- Nhạc gì mà kỳ lạ như vậy?

- Ừ, anh phải nghe suốt năm trăm năm mới thưởng thức được nhạc của họ. Ấy, tụi em cũng vậy, chắc phải nghe suốt năm trăm năm mới thưởng thức được nhạc Huê kỳ.

Cơn cười của Tuấn, vốn tiếp tục với một độ thấp hơn, trong câu chuyện của cô nầy, vụt tắt hẳn. Chàng chợt nhớ tới Lucie Minh rồi giật mình, sợ hãi. Những cô me Huê kỳ mà chàng khinh rẻ, nghĩ ra, gần gũi với chàng không biết bao nhiêu. Chàng tìm một tâm hồn bậu bạn, và dĩ nhiên tâm hồn ấy phải là tâm hồn Việt nam. Những cô me Huê kỳ nầy nguyên trước kia là những cô gái cắt cỏ, những cô thợ cấy, thợ gặt, những cô gánh nước thuê, nên trí và lòng họ hoàn toàn bưng bít với những gì ở ngoài vào, và có ăn ở với những ông Huê kỳ hai mươi năm nữa, chắc họ cũng không chịu được nhạc Jazz. Họ là người Việt nam một trăm phần trăm, trước kia, bây giờ, và mười năm nữa. Lucie thì khác hẳn. Lucie đã bị Âu hóa đậm quá đi rồi. Nàng không ngửi được Vọng cổ mà chỉ mê những điệu Blues, điệu Rock mà thôi.

Ngày xưa, ở Hà nội có một nhà trí thức đi tây học từ thuở lên mười. Ông ấy đỗ đạt rất cao, và thấm nhuần văn hóa Tây phương cho đến đỗi khi nghe ai đọc lên tên chàng Ulysse, ông ta rung động sâu xa và cả một quá khứ Hy lạp, La mã, vụt sống dậy trước mắt ông ta, trong khi đó thì ông ta hoàn toàn dửng dưng khi nghe ai ngâm:

"Bến Tầm dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu..."

Văn hóa ảnh hưởng đến con người nhiều quá, nhiều hơn là cuộc sống chung lâu năm chầy tháng nữa. Lucie quả là một con người "Cốt-mô-pô-líc", không ngạc nhiên trước món ăn ngoại quốc nào, trước loại nhạc Âu Tây nào, trước phép lịch sự quốc tế nào cả, chỉ nhờ nàng đã học nhiều quá. Học nhiều quá rất lợi cho người học, mà có thể cho nước nhà của người học nữa, nhưng y khó lòng mà còn nguyên vẹn là y.

Trước đây Tuấn thích Lucie ghê lấm vì Lucie biết thưởng thức bản "Nhạc buồn" của Chopin y như chàng, chàng quên mất rằng chính vì chàng bị Âu hóa nên chàng rất cần một người bạn đời có tâm hồn Việt nam để bù qua, cấn lại, giữ thế quân bình cho con cái chàng đỡ mất gốc phần nào.

Tuấn nhìn lại cô me Huê kỳ vừa nhắc đến phim "Mousson" với điệu nhạc Ấn độ phải nghe năm trăm năm mới hiểu. Chắc chắn nàng là một cô thợ gặt ở Cần thơ hay Sa đéc gì đó; cách đây mười năm, trôi giạt lên Sài gòn, làm sến năm năm rồi thì giờ làm me Huê kỳ. Mười năm chung đụng với văn minh, nàng chỉ thu nhận được có hai món: tóc phi-dê và đôi giày cao gót. Chỉ vì, chỉ nhờ nàng thiếu học chăng? Làm thế nào mà cô me Huê kỳ nầy cảm được văn minh Đia trung hải, cũng như làm thế nào mà Lucie cảm được tứ đức, tam tòng?

"Một cô giáo làng ở một thôn hẻo lánh tỉnh Vĩnh bình có lẽ hợp với mình hơn là Lucie. Cô giáo ấy không dốt như cô thợ gặt me Huê kỳ nầy, nhưng, y như cô nầy, cô ấy là đứa con thương của đất mẹ, giống hệt mẹ cô, mà đó là người bạn mà mình tìm kiếm". Kể từ cái giây phút nầy đây, Tuấn hết khinh rẻ các cô me Tây, các cô me Huê kỳ, họ tuy lăng nhăng thế mà họ vẫn cứ còn là người Việt nam một trăm phần trăm, khác hẳn với các cô nữ sinh thơm phức mà lại thấm nhuần văn minh Địa trung hải, mà lại rung động sâu xa khi đọc Illyade và Odyssée.

Chàng mỉm cười hỏi:

- Nếu có ông Huê kỳ nào cưới cô nào trong quí cô để đưa về bên ấy, các cô làm thế nào mà quen được với...

- À không, tụi em chỉ làm vợ tháng các ổng mà thôi rồi về sau thế nào cũng lấy chồng Việt nam chớ, nếu còn có người Việt nam chịu lấy tụi em làm vợ.

Rồi các cô cười xòa, tỏ vẻ không tin rằng có người Việt nam nào chịu lấy họ, nhưng họ vẫn hy vọng và phát lộ lòng hy vọng của họ ra bằng trận cười yêu đời ấy. Trong giây phút Tuấn nghe mình rất muốn hôn một cô, bất kỳ cô nào trong đám me đó. Cái hôn ấy, nhứt định không do tình yêu, cũng không do nhục dục, mà là cái hôn thương mến của một người mẹ hôn con, những đứa con tuy dốt nát mà không vong gia, vong bổn.

Sau mùa nghỉ hè, Tuấn lại đến với Lucie. Lucie ngỡ Tuấn trẻ con, giận nàng vì cái việc anh đi đường anh, tôi đi đường tôi. Nhưng nàng rất ngạc nhiên mà thấy Tuấn vui vẻ với nàng như trước, mỗi lần hai người gặp nhau. Và nàng càng ngạc nhiên hơn nữa, là thế mà Tuấn lại cứ lờ đi, mỗi lần nàng đá động đến hôn lễ. Thật là mâu thuẫn. Tuấn vẫn nể nàng, nịnh nàng, chiều chuộng nàng không kém trước chút nào. Nàng có biết đâu rằng Tuấn xem nàng là một người bạn tâm đầu ý hiệp, một nhơn tình lý tưởng, nhưng không thể là một người vợ đủ khả năng thực hiện ý chí ký thác truyền thống dân tộc lại cho con cái của chàng.

(Trích từ tập truyện Cuống Rún Chưa Lìa)
  

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2025

CHỈ LÀ MƠ THÔI - Lê Đức Ngọc


Mây Chiều. một quán nằm ở bên đường, chẳng lấy gì làm thơ mộng, nhưng có lẽ nhờ không khí bên trong ấm cúng, và âm nhạc hay, nên tôi thường đến đây một mình những lúc có đủ tiền một ly cà phê và mấy điều thuốc lẻ. Hôm nay, nhạc thật hay, toàn những bản buồn. Tôi không hiểu tại sao lại thích thế, có lẽ tại đời tôi buồn nhiều hơn vui và toàn những chuyện tình dở dang, đã gây cho tôi một xúc động nhẹ nhàng làm tôi thích.
 
Tách cà phê đã cạn tôi uống hết hơi cuối rồi gọi thêm. Tôi nhủ thầm, rồi tối nay lại thức, lại đàn và lại buồn hát nhảm cho mà xem. Mồi cho mình thêm một điếu thuốc nữa, bỗng mắt tôi trông thấy một đôi tình nhân trẻ vừa bước vào. Và tim tôi bồi hồi, nói bồi hồi cũng chưa đủ, phải gọi là bàng hoàng mới đúng. Trước mặt tôi, sụp đổ tất cả, tôi không còn bình thường được, và tim tôi vang lên một tiếng gọi nhẹ, Tuyết! Rồi tôi lặp lại một mình, Tuyết, Tuyết! Phải rồi, Tuyết, người con gái mà mấy năm trước đây tôi đã yêu, ngây dại. Và, hết. Tôi vừa xúc động mạnh. Tách cà phê mới được đem ra. Tôi thoáng nhìn lui, hai người trẻ tuổi ngồi sau lưng tôi, họ đều đẹp đôi. Người con gái mặc áo vàng thật tươi. Tóc dài như tóc ngày nào, có khác là bây giờ không còn thắt bím nữa. Tuyết. Mộng Tuyết. Bây giờ, dù ta gần nhau đây, một cách ngăn nhỏ, chỉ là một ô vuông mặt bàn thôi, nhưng trong tình cảm, ta đã "nghìn trùng xa cách". Tuyết vẫn chưa thấy tôi, vì nàng đang nói với người con trai về thức uống khi người bồi bàn đến hỏi. Nhưng rồi, đôi mắt Tuyết và đôi mắt tôi gặp nhau. Bốn con mắt không được tự nhiên, Tuyết bối rối và tôi cũng bối rối. Tôi quay mặt lên, nhắm mắt lại, để nhớ một đôi mắt, đôi mắt to đen, đôi mắt có hàng lông mi kín và dài ra như bờ tường nhà nàng. Phải, đôi mắt ấy đã mấy lần mở lớn ra nhìn vào mắt tôi, một cách ngây dại, một cách thiết tha. Bây giờ chỉ là mơ. Mơ Tuyết ơi. Mộng Tuyết hay là Mơ Tuyết chỉ có tôi hiểu thôi.
 
Âm nhạc vẫn chạy đều. Phạm Duy đã mời nhân tình của ông, và tôi, tôi cũng mời em, Mơ Tuyết, để về một "miền quá khứ, có lũ kỷ niệm trước sau"... 
 
*
 
Năm ấy, học lớp nhất, tôi còn bé lắm trong trường Trần Quốc Toản ngoài Huế. Tuyết cùng học lớp với tôi. Tuyết coi như là đẹp nhất trong lớp. Dù không đứa nào tôn cô bé lên làm hoa khôi, nhưng với những nét đẹp mà cô bé có, và riêng với tôi, Tuyết đã là hoa khôi. Một đóa hoa trắng như tuyết, mang theo vẻ đẹp mơ hồ, và để biết bao nhiêu người sau nầy, khi lớn lên, si mê, tương tư. Và tôi đã si dại, một mối tình nho nhỏ, không dám tỏ, không dám nói chuyện vì tôi vốn rụt rè, cả thẹn, những ngày lớp nhất. Xem ra thì Tuyết ngày xưa với Tuyết bây giờ chẳng mấy khác nhau, có chăng đó là nét đẹp kiều diễm, mê đắm lòng người mà thôi. Cô bé Tuyết học giỏi. Cô bé Tuyết đẹp, dễ thương. Tuyết có một dáng người vừa phải. Một mái tóc dài thắt bím, trông ngây thơ, những lúc Tuyết chơi nhảy dây, hai "đuôi gà" ấy tung tăng làm cho tôi đã nhìn ngây ngất, lén lút. Tuyết có một gương mặt trái soan mà ngày ấy tôi không biết, bây giờ khi hồi tưởng, và ngay lúc này, tôi mới hiểu. Gương mặt trong đôi má hồng. Cặp mắt to đen, thoáng một chút ngơ ngác những khi tôi nhìn bị cô bé bắt gặp. Và lúc ấy, đôi mắt xụ xuống, làm đôi hàng mi che kín. Sóng mũi thanh tú, hơi cao một tí, càng tăng thêm vẻ đẹp. Đôi môi hồng chẻ, cũng như cằm của Tuyết. Thật là trời thiên vị, cho một người con gái quá đẹp, đến nỗi, dù một đứa con trai 15 tuổi như tôi đã biết rung động.
 
Có lẽ, tình yêu của tôi nẩy nở sớm hơn những đứa trẻ bình thường, nên dù sao đi nữa, tôi cũng không dùng chữ yêu để nói lên phần tình cảm của tôi, thuở ấy. Nhưng khi nhìn lại mình, nhìn gia đình Tuyết, tôi thấy một sự quá xa biệt, một cách ngăn buồn, một kẻ trên đỉnh cao ngút ngàn giàu sang, một người ở vực sâu thăm thẳm nghèo nàn. Tôi là một đứa cô nhi ngày ấy và bây giờ, tôi là một người tuổi trẻ lang thang, không gia đình, chẳng bà con ở cái dất Saigon xa hoa này. Tôi rất đỗi thiếu thốn, từ tình thương đến vật chất. Nhìn Tuyết mỗi sáng đi học, mỗi trưa về đều có xe hơi đưa rước, tôi buồn bã thở dài. Tôi muốn làm quen với Tuyết lắm, dù chúng tôi học một lớp, nhưng Tuyết vào sau, hơn nữa, sắc đẹp và sự giàu sang đã là một sự cách ngăn, một bên bóng tối, một bên sáng rỡ, huy hoàng. Làm sao không e ngại, làm sao không cách ngăn? Để rồi, một ngày cuối cùng của niên học khi hay tin Tuyết theo gia đình đi Nha Trang...
 
Đó là một nỗi buồn lớn của đứa con trai 15 tuổi là tôi. Ngày ấy, trên đường Phan Bội Châu, tôi đã đi ra đi vào bồn chồn, tiếc nuối, buồn bã. Tôi biết hút thuốc từ đó. Cuối cùng, Tuyết cũng đi Nha Trang. Những tưởng đó là một lần cuối không bao giờ còn gặp nhau nữa. nhưng bốn năm sau, tình cờ đã đưa hai đứa tôi gặp nhau tại rạp Ciné Hưng Đạo.
 
Hôm ấy, tôi đang đi xem mấy bức hình ngoài chỗ giới thiệu phim mới, thì mắt tôi trông thấy một người con gái quen. Tôi đã ngẩn ngơ đứng lại cố nhớ. Một đôi mắt to đen, ngơ ngác, lông mi dài. Một suối tóc thề. Một đôi môi hồng chẻ, cũng như cằm. Cuối cùng, trí nhớ đã giúp môi miệng tôi thốt lên : Tuyết. Tôi sợ bị nàng cho là mình để ý lố quá, nên đi qua lại chỗ đông người để nhìn nàng. Tuyết bấy giờ đã lớn, vẫn đẹp. Và, tưởng như đã quên, nhưng rồi tình cảm dào dạt thuở 15 tuổi đã khơi động lại, một cách rộn rã, reo vui. Nhưng sự rụt rè bao giờ cũng làm cho tôi dừng lại ở một khoảng, chỉ có đôi mắt ấy, mở lớn, cố nhớ lại tôi. Sau đó Tuyết vào rạp ciné, tôi đút tay túi sau lững thững đi về, với một nỗi lòng có buồn có vui.
 
Tôi, năm gặp lại Tuyết lần đầu ở Huế, khi Tuyết từ Nha Trang về, đã là lớp đệ tứ và Tuyết cũng thế. Tôi đã không còn ở Cô nhi viện Quốc Gia trong thành nội nữa, mà đã xin vào Cô nhi viện Tây Lộc. Đi đâu thì đời bất hạnh bao giờ cũng bất hạnh, nên tôi vẫn là kẻ nhút nhát. Từ đó, tôi hay lững thững ở các rạp ciné để tìm Tuyết. Và cũng đã gặp, chỉ là gặp để nhìn với đôi mắt chứa chan âm thầm, để rồi mong một dịp nào đó tình cờ thật thuận tiện, để nói lên cái nỗi lòng mình. Tuyết đã không tránh đôi mắt tôi và làm sao tôi nói hết ý nghĩa của đôi mắt ấy mở lớn, bỡ ngỡ?
 
Sự thật, dịp may ấy đã đến, đó là một chiều cuối đông, trốn viện về Phù Lương ăn đám giỗ. Trời đã gần tối rồi. Trời có mưa bay bay, nhẹ nhàng. Tôi mặc chiếc áo mưa nhà binh rộng, đầu trần. Lên xe về Đông Ba, qua An Cựu. Tôi lên xe lam để đến Phù Lương. Tôi ngồi ngoài bìa. Xe vẫn chưa chịu chạy, chỉ vì ông tài xế chờ cho đủ hai người khách nữa. Và, người khách ấy, thật tình cờ, lại chính là Tuyết. Tuyết lên xe, đang còn bối rối tìm chỗ, tôi xích ra một bên, nhưng chẳng hy vọng gì Tuyết ngồi gần tôi, vì bên kia còn một chỗ. Thế mà, Tuyết đã không ngồi bên ấy. Làm sao tôi nói được niềm vui quá đong đầy của tôi, khi mà tôi không chuẩn bị? Thật tình cờ phải không em Mơ Tuyết? Và đến bây giờ, tôi vẫn tiếc, vẫn còn nhớ, tại sao tôi mãi rụt rè?
 
Tuyết ngồi gần tôi, một mùi hương trinh nguyên con gái thoang thoảng trên tóc, trên da thịt phả vào tôi, ngất ngây. Một buổi chiều cuối đông có mưa bay bay, gần tối, trên chuyến xe lam cùng về một nơi đường chẳng gần, chúng ta lại sít bên nhau, chỉ cách một lớp áo mưa, làm sao không gọi đó là một tình cờ rất thánh? Khi chuyến xe đủ số hành khách, nó bắt đầu chạy. Càng ra quốc lộ đường càng lắm gió, bởi hai bên là đồng ruộng xanh rì những lúa tốt tươi. Chuyến xe lam cuối cùng trong ngày đã chạy thật hối hả, làm gió càng thổi mạnh vào xe. Tôi vẫn chưa nói gì, tôi còn e ngại. Trước mặt tôi có một thanh niên, tôi sợ có người nghe tôi nói, nhỡ Tuyết không trả lời có "quê" mặt tôi không? Tôi lựa câu để hỏi, và câu đầu tiên được thoát ra miệng tôi một cách rất nhỏ và nhanh, nhưng nhờ gió đã làm cho Tuyết nghe:
 
- Tên Tuyết phải không?
 
Và Tuyết không để tôi "quê":
 
- Ừ!
 
Tôi tiếp tục:
 
- Năm lớp nhất học Trần Quốc Toản phải không?
 
- Phải, răng mà biết?
 
- Rồi đi Nha Trang à?
 
- Đúng!
 
- Tại răng không ở Nha Trang cho sướng mà về Huế làm chi cho mệt?
 
- Không, Nha Trang buồn!
 
- Rứa à?
 
Bao nhiêu câu hỏi đã hỏi hết. Tôi đang lo ngại sẽ "bí đề". May quá:
 
- Biết tên mình không"
 
Tuyết cười:
 
- Chi mà không biết!
 
- Biết học ở đâu không?
 
- Răng không!
 
Nói xong Tuyết vạch áo mưa của tôi:
 
- Lại Phước Định. Hàm Nghi!
 
Tuyết cười thật tươi. Tôi vui quá. Chợt nhớ, tôi hỏi:
 
- Bây giờ Tuyết học ở đâu?
 
- Đồng Khánh!
 
Tôi nhìn bảng tên thêu chỉ màu đỏ viền - nhất tím, nhị hồng, tam xanh, tứ đỏ... - và Mộng Tuyết, Đồng Khánh, màu xanh trên ngực. Tuyết hỏi:
 
- Học lớp Nhất kỳ đó biết anh Tấn không?
 
- Không!
 
- Anh Vũ?
 
- Không! 
 
- Anh Thoại?
 
- Không mà - tôi cười xoa tay - tôi không biết đâu, tôi chỉ biết Tuyết thôi. Đừng nói chuyện đó!
 
Tuyết vẫn "có duyên đáo để":
 
- Tất cả là anh của Tuyết đó!
 
- Bây giờ nhà ở đâu?
 
- Phù Lương!
 
- Tôi cũng ở đó!
 
Lạy trời, Tuyết đã không biết chỗ của tôi hiện ở, nhưng làm sao tôi giấu nổi đây, một cô nhi bất hạnh? Tôi hỏi (vẫn chỉ là những câu hỏi):
 
- Bây chừ... à, đi mô về rứa?
 
- Đi lên phố sang ảnh!
 
- Vẫn ở nhà dưới Phù Lương và lên học ở Đồng Khánh?
 
- Phải, có xe chở! Bây chừ xe mắc đưa ba đi!
 
Ba chữ "có xe chở" đã làm cho tôi buồn, nhưng cố trấn tĩnh để nói:
 
- Cho mượn xấp ảnh coi nghe!
 
Tuyết đưa cho tôi, phàn nàn:
 
- Ảnh xấu quá!
 
Tôi thấy toàn là những ảnh màu. Nghe tiếng nói này, tôi không biết nói sao để mà... nịnh cho lọt lỗ tai. Sự thật anh không xấu lắm như tuyết nghĩ. Tôi cố gắng lắm mới nói được câu "nịnh" đầu tiên trong cuộc đời:
 
- Dễ thương... đấy chớ, cái mô cũng đẹp hết!
 
- Xì, xấu thấy mồ đi!
 
Tôi coi xong, trao lại rồi nói:
 
- Cho xin cái ảnh đi!
 
- Chi rứa?
 
- Để... kỷ niệm!
 
- Thôi, ảnh hơi xấu, để khi khác!
 
Tôi nhìn ra hai bên đường, xe đã gần đến Phù Lương. Tôi hỏi vội:
 
- Nhà ở đoạn mô?
 
- Gần Ấu Trĩ Viện!
 
Tôi nghĩ sẽ cùng đi xuống với Tuyết để biết nhà, thay vì xuống trước, vì tôi đoán nhà mình với nhà nàng không xa gì, tôi sẽ đi bộ ngược về cũng được. Nhưng khi có một người ngừng xe lại, ngang khúc nhà tôi, tự nhiên tôi bỗng quên. Và tôi bước xuống, tôi chào:
 
- Đi nghe!
 
- Ừ!
 
Tuyết cười, vẫy vẫy, đi xa vẫn còn thấy đôi tay vẫy. Tôi vui thật vui, chưa ai cho tôi được niềm vui lớn như thế. Tối đó, về nhà ăn cơm rồi tôi đi xuống Ấu Trĩ Viện ngay. Đi quanh tìm hoài nhưng không gặp. Tôi đứng trước một biệt thự, phân vân tự hỏi không biết Tuyết có phải ở đây? Nhưng ngại sự đứng lâu người ta nghi ngờ mình ăn cắp. Tôi đi cùng hết, cuối cùng tôi về nhà để ngủ, đôi chân rã rời, lòng buồn biết mấy tôi chỉ ngủ được lúc khuya. Sáng ra, chủ nhật, tôi lại đến tìm. Bao giờ cái biệt thự sang trọng cũng là nơi tôi ngờ có Tuyết nhất. Tôi hỏi xung quanh, có ai biết Tuyết học Đồng Khánh không? Họ đều bảo là không. Tôi đi tìm mãi, vô vọng nhưng vẫn tìm. Đến lúc mà đôi chân rã rời, lòng chán chường vì quá tuyệt vọng, và bụng kêu gào tôi trở về nhà. Lần lên Huế, tôi cũng đã từng hàng giờ đứng chờ, hút thuốc, tìm một đôi mắt to đen, một suối tóc thề, một đôi môi chẻ hồng của Tuyết mà không có. Trong trăm ngàn học sinh Đồng Khánh, làm sao tôi tìm được em, hỡi Tuyết? Tình yêu nung nấu thêm lên, dào dạt, reo vui rộn rã mỗi khi nghĩ đến lúc ngồi trên xe lam chiều nào, và háo hức mỗi khi nghĩ đến lúc gặp sắp tới. Mỗi khi có dịp về Phù Lương tôi thường quanh quẩn mãi để tìm cho được Tuyết. Nhưng mãi mãi chỉ là những buồn bã, rã rời.
 
 *
 
Cho đến bây giờ thì vẫn dáng em, vẫn đôi mắt to đen, mở lớn nhìn vào đôi mắt tôi bỡ ngỡ. Nhưng đã xa lắm rồi phải không Mơ Tuyết? Trông tôi bây giờ chẳng còn gì để nói lên nỗi buồn mình. Lời hẹn năm nào em có nhớ, rằng, Tuyết sẽ cho tôi một tấm ảnh để kỷ niệm? Bây giờ thì tất cả đã thành kỷ niệm, kỷ niệm buồn một thời biết yêu. Tôi mơ mộng sẽ gặp em, để chúng tôi viết lên cho đời nhau một chuyện tình đẹp, có lời nói dịu dàng, có môi hôn ngọt mật, có những chiều mưa vào quán cà phê nghe nhạc, bốn mắt nhìn nhau suốt đời nhau...
 
Tuyết ơi, tôi đã tìm được em, nhưng bây giờ em không đi một mình em trên một con phố vắng, trên một chuyến xe lam trời mưa buồn và có tôi... Không gian vẫn thế, nhưng em không đi một mình và lòng em không có tôi. Chỉ là mơ thôi...
 
Tôi uống hết tách cà phê còn lại. Đứng dậy, trả tiền, quay lui, đôi nhân tình trẻ đã ra đi tự lúc nào. Hỏi người bồi, anh ta nói:
 
- Họ đi sau khi tách cà phê anh nhỏ hết! Anh có quen?
 
Có. Một người. Nhưng chỉ là mơ thôi. Không trả lời người bồi bàn, tôi lững thững bước ra khỏi quán. Mưa vẫn rơi...
 
 
LÊ ĐỨC NGỌC       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 148, phát hành ngày 20-11-1974)
 

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2025

TỪ PHEN ĐÁ BIẾT - Trần Huiền Ân


Tặng Người, và Phạm Cao Hoàng - Cẩm Lan
 
 Bây giờ thì lòng chàng hoàn toàn thanh thản. Bỏ xích đu ra sân, nằm ngửa mặt nhìn trời, nghe máy thu thanh giới thiệu và trình bày nhạc Beethoven. Đêm mười sáu, tháng chín mà trăng vẫn sáng. Sáng như trăng mùa thu. Đêm trăng nối tiếp cho buổi chiều thật êm đềm, thật dịu nhẹ. Chàng nhớ, mọi năm dạo này là mùa mưa to. Mưa như tháng chín tháng mười. Bà con vẫn bảo nhau như vậy. Và chàng nghĩ: Có lẽ hôm nay là ngày cuối cùng của mùa nắng nhạt. Ngày mai sẽ mưa. Chàng tin như vậy dù bây giờ trời rất đẹp và rất trong...
 
Nhạc Beethoven ai đem so sánh với tâm hồn Thúy Kiều? Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy. Tiếng nhạc chỉ trôi qua mơ hồ, xa vắng huyền ảo như tan loãng vào mây cao bởi lòng chàng đang có những nỗi vui chập chờn khắp lá cây, ngọn cỏ... Nỗi vui manh nha từ năm hôm trước và thật sự thành hình khi Thục trong chiếc áo in những vân hoa tròn chung thủy sánh vai chàng tiến ra lối đi lát gạch sẫm trong sân. Thục đến ngồi bên chàng và chiếc xe từ từ bò ra đại lộ. Qua kính chiếu hậu, chàng thấy, ở băng sau Vĩnh và Phương chụm đầu lại nhau, hòa một nụ cười. Đường phố đông đảo người đi trong mầu vàng của nắng. Chàng nhớ đến cảm xúc của một nhà thơ khi phải rời bỏ một thành phố bạn, nói lên tiếng hát xa quê:
 
Đường qua mấy phố Qui Nhơn 
Nhà sao trông lại yêu hơn mọi lần
Người đi quần áo chen chân
Ồ! Sao như lại quen thân từ nào...
 
Chàng không phải hát tiếng hát đi đày. Chàng đang đi vào một buổi chiều hạnh phúc nhưng vẫn thấy nhà cửa, phố xá Tuy Hòa đáng yêu hơn mọi lần, vẫn thấy như quen thân tất cả mọi người qua lại...
 
Khỏi ngã Năm, Thục cũng như Phương đều chưa biết đích của chuyến đi. Vĩnh giải thích:
 
- Anh sẽ đưa em đến một chân trời, góc núi.
 
- Sao lại góc núi?
 
- Bởi vì nếu góc biển thì chúng ta đã xuôi về hướng đông, hướng... Cư Xá Đoàn Kết...
 
Có tiếng hai người khúc khích cười. Hình như Phương bẹo Vĩnh. Rồi có tiếng ngâm trong suốt:
 
- Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, mặn nồng thiếp cam.
 
Chàng nhìn sang Thục, bắt gặp Thục cũng đang nhìn sang chàng, cười nhẹ. Nụ cười ngầm nói về sự hồn nhiên của Vĩnh với Phương. Hai người vẫn tự gọi nhau là Ông Tây, Bà Đầm. Ông Tây, Bà Đầm dùng chung một hộp thư Bưu điện nên trên mỗi lá thư địa chỉ người gửi và người nhận y nhau.
 
Bắt đầu vào cầu Đà Rằng, chàng cho xe đi chậm lại. Đó là một thói quen. Không bao giờ qua cầu chàng chạy nhanh, sợ phí phạm cảnh trời mây sông nước. Phương trao một quả cam cho Thục, một quả bóc chia cho Vĩnh. Chàng được Thục chia phần nhưng đặt bên tấm kính để được ngắm Thục ăn. Hai người lại bàn về dự tính mộng mơ. Đó là dự tính bắc một chiếc cầu khác qua sông Đà, từ nhà Thục đến thẳng ngôi trường Thục dạy. Chiếc cầu sẽ dành duy nhất cho đôi bàn chân Thục. Lần này Thục nói sẽ mời thêm một bạn nữa đi cho vui cùng. Chàng hỏi:
 
- Đó là loại bạn gì mà được hân hạnh vậy?
 
Thục trả lời với giọng hóm hỉnh:
 
- Bạn đi cùng đường và đi suốt đời nên gọi là bạn đường đời.
 
Chàng cắt ngay:
 
- Nếu vậy tôi sẽ đặt mìn phá cầu...
 
- Thì anh phải bồi thường chiến tranh...
 
Câu chuyện vẩn vơ đưa bốn người qua khỏi Phú Lâm lúc nào không hay. Chàng cho xe rẽ phải, chạy trên một con lộ đắp cao giữa đồng. Bám sát con lộ, dòng kênh nam nước lặng lờ không chảy. Cánh đồng trải ra toàn một màu xanh. Cánh đồng đi vào tâm trí chàng từ những bài Địa lý lớp ba của giáo sư Trần Sĩ. Xa xa về phương nam, dãy Đèo Cả nhạt mờ trên nền trời. Xe lại rẽ phải lần nữa, chầm chậm lăn vào lối hẻm hai bên là hàng tre tỏa bóng. Đàn bò phía trước cứ mải thong thả trước mặt, chàng nhận còi như hối thúc. Chàng giải thích:
 
- Chúng ta đi chơi ở những vùng này để Thục biết rõ đời sống miền quê hơn.
 
Thục cãi lại:
 
- Anh tưởng Thục không biết sao? Gia đình Thục chính ở một vùng quê.
 
- Nhưng từ lâu, đi học ở Sàigòn, rồi đi làm cô giáo, miền quê với Thục chắc chỉ còn là tuổi nhỏ mơ hồ...
 
Dừng lại cạnh một ngồi trường quê, Vĩnh đã sát vai Phương khuất vào trong xóm. Chàng biết, chắc hai người vào ngôi quán nhỏ, ngôi quán chỉ bán thức ăn cho những người quen đặt trước, có không khí ấm cúng thân mật như một nhà bà con. Thấy Thục, vài đứa học sinh reo lên, sững lại:
 
- Thưa cô. Cô sang đây lúc nào?
 
Thục giới thiệu với chàng đó là những học sinh lớp Thục cố vấn. Học trò trường quận hồn nhiên, chất phác và lễ độ trong ngôn từ cũng như cử chỉ.
 
Hai người ngồi xuống vệ cỏ. Bóng hàng tre đong đưa, quét dài trên ngọn cỏ, rung rung. Vài đứa bé tò mò đứng ngắm. Khi đám học sinh chào đi, Thục nói:
 
- Ngày mai đến trường chắc thế nào bọn nó cũng bảo nhau là thấy Thục đi chơi với một ông...
 
Chàng cười, tiếp:
 
- Một ông thầy...
 
Chàng chợt nhớ là tuần trước đã bất bình Thục một cách phi lý. Hôm ấy, chàng vừa đến lối rẽ vào nhà Thục thì gặp cô em chạy xe ra, vừa cười vừa nói:
 
- Có chị Thục ở nhà.
 
Nét mặt và nụ cười cô bé, chàng đọc được vẻ thân mật, gần gũi. Nhưng khi chàng vào nhà thì đứa cháu báo tin Thục bệnh. Chàng ngơ ngác, phân vân rồi quay gót. Lòng vẫn ấm ức là vì một lẽ nào đó Thục không muốn gặp chàng chăng. Chàng nghĩ là sẽ không bao giờ ghé nhà Thục nữa. Chàng sẽ đoạn tuyệt với một quãng đời chàng cho là thơ mộng. Dứt khoát như vậy rồi, chàng thấy lòng vô cùng buồn bã. Cơ hồ chàng thấy không còn có gì vui vẻ, hào hứng nữa. Gặp lại Thục tại nhà một người bạn, chàng vẫn chẳng tìm được nỗi vui. Chàng có vẻ tránh né. Hai người ngồi cách xa nhau. Chàng từ chối không uống rượu, sợ men rượu làm khuây đi nỗi buồn chàng đang cố nuôi dưỡng. Thục thì sau cơn bệnh, vẫn còn vẻ xanh xao, gầy yếu, thỉnh thoảng quay nhìn chàng như dò hỏi. Khi chàng về đến nhà thì trời đổ mưa to, mưa dai dẳng. Chàng thức ngồi nghe mưa và thương nhớ rạt rào những cơn mưa dĩ vãng. Những đêm mưa nơi quán trọ miền thượng lưu sông Ba. Những đêm mưa trong cánh đồng Phong Niên. Và cái đêm mưa dưới mái nhà ông bác già cạnh Chùa Cát, Nha Trang, sau một ngày chàng cùng Thùy Lam lang thang khắp nẻo từ Hòn Chồng, Tháp Bà đến chùa Hải Đức. Chàng đã gởi vào cuộc tình với Thùy Lam tất cả tha thiết, chân thành của tuổi vào đời. Chính vì vậy mà chàng hết sức vụng về trong vai trò người con trai. Nhưng chính nhờ sự vụng về này chàng đã thành công, đạt được địa vị độc tôn trong tâm hồn Thùy Lam. Cuộc tình với Thùy Lam đã giúp chàng hiểu biết hơn, nhất là hiểu biết tâm lý nữ phái. Ngày xa Thùy Lam, chàng vẫn nghĩ, hình ảnh đó không thể thay thế được. Cho đến bây giờ hình ảnh Thục lại là một hình ảnh lớn nữa trong lòng chàng. Chàng đã hiểu biết hơn để có thể chiều chuộng Thục nhưng hình như chàng sợ... mất lòng Thục hơn Thùy Lam. Chàng luôn luôn lo ngại những điều chàng làm sẽ phật ý Thục. Khác với ngày nào, Thùy Lam có vẻ âm thầm cam chịu, sau mới nói ra chàng chỉ xuề xòa xin lỗi... Có lẽ vì vậy mà suốt đời chàng chỉ là một gã trẻ con. Buổi chiều mưa trên gác chuông chùa Hải Đức, chàng lạnh run, Thùy Lam choàng chiếc áo cho chàng. Chàng đứng im cảm nhận. Sau đó, trong thư, Thùy Lam viết: Lúc đó em thấy anh ngoan ngoãn một cách trẻ con hết sức! Mới đây, Thục cũng có ý tương tự: Tình anh chân thành như thuở tuổi học trò. Chàng cho rằng, khi yêu, không ai có thể tự hào là mình sáng suốt, trưởng thành. Ngày mới vào Trung học, chàng có đọc một quyển truyện, tả cảnh tiên. "Chàng" là một vị tiên ông già râu tóc bạc phơ. "Nàng" là một nàng tiên xuân xanh đôi tám, giật mình vì cái vỗ cánh mạnh của một con chim. Tác giả quyển truyện viết: "Vị tiên ông quên cả mớ tuổi chồng chất trên đầu, bảo "Để rồi anh đánh gãy cánh con chim cho em nhá". Chàng mỉm cười. Người ta là tiên, tuổi đời chồng chất còn như vậy, huống chi mình, không phải là tiên, cũng chưa râu tóc bạc phơ... Chàng thức ngồi nghe mưa và nghĩ đến con đường vào nhà Thục, có vài đoạn bùn lầy. Có vết bùn nào vấy bẩn gót chân Thục chăng? Chút băn khoăn về một vết bùn nơi gót chân Thục khiến chàng đến thăm Thục ngay hôm sau đó. Mỗi lần ghé nhà Thục chàng gọi là đi hòa đàm. Cuộc hòa đàm đã khai thông và hai bên đồng ý có chuyến đi chơi này. Bên cạnh Thục, chàng có được những phút vui vẻ tự nhiên, quên được cái mỏi mệt, chán chường, mà Thục vẫn đùa là: của một người suốt đời lang thang nơi dịch xá, chấp nhận những bát cơm tân khách để đi tìm minh chủ...
 
Chàng đưa Thục vào lối Vĩnh đã đưa Phương đi thì gặp Vĩnh ra đón. Trong ngôi quán, một bữa ăn đã được dọn ra với mấy dĩa bánh xèo, mấy dĩa rau xanh, mấy chén nước mắm với ớt cay hồng thắm. Đối diện với chàng và Thục, Phương vẫn nhí nhảnh cùng Vĩnh. Chàng bảo Thục:
 
- Anh chị có vẻ giỡn mặt chính quyền quá!
 
Thục như bào chữa giúp Phương:
 
- Lớp trẻ mà anh.
 
Phương vẫn không để ý. Vì tuy chỉ có bốn người nhưng có hai chiều câu chuyện khác nhau, mỗi bên theo đuổi riêng rẽ, thỉnh thoảng mới có câu bàn góp chung. Hai chiều câu chuyện cũng là hai sắc thái. Một bên giòn giã vui tươi và một bên trầm trầm thâm đậm...
 
Khi chiếc xe quay đầu để ra khỏi xóm nhỏ thì mặt trời đã gần kề đỉnh núi. Lâu lắm, khó lắm mới có một lần trở lại nơi này, đủ cả bốn người của buổi chiều nay. Vài hôm nữa, Vĩnh trở lại Đàlạt, Thục, Phương miệt mài với sách vở, chăn dắt lũ học trò. Còn chàng, tiếp tục nổi trôi. Có thể chàng sẽ trở lại, trở lại một mình, để nhớ hôm nay đã là dĩ vãng. Chàng khe khẽ đọc:
 
Lối mòn vương dấu cô liêu
Nghe trong hơi thở sáo diều trời xưa...
 
Thục khen:
 
- Hay! Thơ anh đó hả?
 
Chàng lắc đầu:
 
- Không. Của một người bạn.
 
- Ai vậy?
 
- Lương Trinh.
 
- Lương Trinh là nam hay nữ?
 
- Nữ.
 
- Hèn chi thơ hay và tên thật đẹp. Nàng có đẹp không anh?
 
- Đẹp và rất đáng yêu - Chàng đáp chậm.
 
Thục cười ngập ngừng:
 
- Đẹp và rất đáng yêu. Chắc anh đã yêu tác giả hai câu thơ đó?
 
*
 
Chàng thức giấc nghe mưa ào ạt đổ. Đồng hồ trên tay chỉ bảy giờ sáng. Chàng chồm dậy, mở cửa sổ nhìn mưa reo vui. Chàng đã đoán đúng. Hôm nay bắt đầu mùa mưa rồi. Mưa to thật. Nắng vàng của chuyến đi chơi chiều hôm qua đã là một kỷ niệm êm đềm, đã là dĩ vãng thơm ngát tiếng sáo diều trong hơi thở. A, còn nửa quả cam chiều hôm qua Thục chia phần cho, chàng quên ăn, còn để trên xe. Chắc giờ này ông tài xế Ty Tiểu học đang sửa soạn xe để đưa ông Ty trưởng đi làm việc. Có lẽ ông tài xế nhắc đến nên chàng nhớ. Chàng tưởng tượng ông tài xế vốn vui tính đang la oang oang:
 
- Ơ hơ! Kia kìa! Mấy cha ngày hôm qua mượn xe đi chơi đâu, ăn nhậu gì, còn bỏ nửa quả cam đây? Hà hà...
 
 
TRẦN HUIỀN ÂN      
 
(Trích tuần báo Tuổi ngọc số 77, tuần lẽ từ 16 đến 23-11-1972)