Tiếng trống múa lân rộn rã ngoài kia như khua vào ký ức tôi đêm hội trăng rằm nhà Tú. Tú, thời tuổi nhỏ. Tú, tay đánh trống chầu hát bội gia truyền, múa may cặp dùi như múa võ. Trình quay tít đầu lân, tiến thối nhịp nhàng. Tôi mang mặt nạ ông địa, khệ nệ mang cái bụng độn vải căng phồng, phe phẩy quạt mo, chỉ chỏ cái đùm tiền treo đầu cây roi trên tay Vân. Vân cứ tinh nghịch nhử thèm miếng mồi ngang mũi lân, không cho nó táp lọt.
Thời đó mình bao nhiêu tuổi nhỉ? Nhớ không Trình?
Nay Vân chắc quên bẵng rồi? Nàng đã lớn, biết xõa tóc thề tôn nữ làm dáng, biết nghiêng nón ngang mặt thẹn thùa lúc gặp tôi. Tú thì dại dột đâm trống ném dùi để làm người đạo mạo. Hắn ở lại Huế giữ chiếc chìa khóa cửa mở cái kho tàng kỷ niệm của bọn mình. Như một kẻ thủ từ. Để anh lang bạt kỳ hồ, tôi lưu linh thỉnh độ. Hai đứa hai phương trời.
Bạn tôi, Trình Ô Lâu, ở Saigon mỗi lần thu đến đều viết thư về than thở: "Tiếc quá, trung thu này hai đứa mình không ra Huế được để bơi thuyền rước trăng trên sông Hương như độ nào". Tôi lại hỏi mình: Độ nào nhỉ? A, nhớ rồi, kỳ diệu thay, trí nhớ tôi vẫn còn sáng tỏ tựa ánh trăng rằm đêm năm xưa. Dễ chừng năm mười năm rồi? Nhưng sao nó vẫn gần gũi tinh tương y hệt như mới diễn ra đêm qua.
Ừ thì đêm qua vậy, Trình rủ tôi ra bến Gia Hội lúc trăng vừa lên khỏi ngọn tre dưới thôn Vỹ Dạ. Bạn nói:
- Hồi chiều ta đã thuê chiếc đò chạy kia. Xuống thôi.
Tôi cười:
- Đêm rằm anh mới kiêng thứ đò mặn. Ngày thường mô có hiền chi.
- Chờ trăng lặn rồi tính chuyện nớ sau.
Đò lững thững tiến ra giữa sông, đi ngược lên Phu-Văn-Lâu. Dòng sông ngờm ngợp màu trăng như được tráng một lớp kim nhũ loang loáng. Mái chèo khuấy nước ngọt lịm như chiếc muỗng xắn nhẹ từng phiến đông sương. Trình nằm dài ra giữa khoang đò nhìn trăng lơ lửng đi theo trên đầu. Hứng chí bạn bắt chước giọng Nam Bình ca xang nghêu ngao. Tôi hát ử ư nhại theo. Rồi cả hai phá lên cười khoái sảng khiến con đò hơi chông chênh lắc nhẹ.
Nhìn lên: Tháp nước Giả Viên lù lù, cầu Bạch Hổ đen đủi chỉ vạch được những nét mờ mờ như màu bút chì kẻ mi mắt. Ngó xuống: Sáu vài cầu Trường Tiền trắng bạc phản chiếu ánh trăng sáng rực. Trên trời: trăng sáng lồng lộng. Dưới sông: trăng soi vằng vặc. Hình là đâu ảnh là đâu?
Tôi ngẩn ngơ quay lại. Trình mở cái túi mang theo bày ra một bình rượu nhỏ và hai chiếc cốc bé tí teo. Bạn trầm trồ:
- Rượu-hoàng-hoa đây nhé. Hiếm lắm!
Chén thù chén tạc mềm môi.
Chặp lâu, Trình đứng lên, thở ra hơi men nồng nực:
- Cả ngàn năm nay chưa có ai nối gót Lý Bạch. Ồ, trăng đẹp quá. Nàng đang mỉm cười vẫy gọi ta tề.
Bạn bỗng nhảy ầm xuống sông. Tôi hốt hoảng không kịp níu lại. Nhưng lát sau, bạn ngóc đầu lên khỏi mặt nước, đu lấy mạn thuyền. Người lái đò tỉnh ngủ, há hốc mồm ngơ ngác. Trình leo vào đò thở ì ạch, nước chảy ròng ròng khắp mặt mũi. Những giọt nước lóng lánh màu trăng như từng chuỗi hạt vàng mơn man ve vuốt người Trình. Bạn mở bật hai bàn tay nắm chặt nãy giờ: ngạc nhiên! Không có gì như anh tưởng? Trình thều thào:
- Tao nhớ mi đêm nay, L. ơi!
Đêm nay, ngồi giữa đất khách quê người, tôi cũng muốn thốt lên:
- Trình ơi, ta đang nhớ ngươi.
Trăng kia có là trăng đêm nào trên Hương Giang? Nhớ gì không?
Rượu-hoàng-hoa đã một thuở tuyệt tích thất truyền rồi chăng? Còn đây, rượu nhân thế uống một mình, ta muốn khô gan héo ruột. Sầu tình, tôi nhại thơ Nguyễn Bính ngâm càn: "Hai ta lưu lạc hai phương trời. Trải mấy mùa thu ngắm lá rơi..." Bỗng, nhà bên, ai đang hát héo hon: "Thu sang cho lá vàng bay... lá rơi cho đám cưới về... Người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa... tình duyên đã lỡ...". Tôi bồi hồi lắng nghe, xúc động. Bài hát vô tình trùng hợp với tâm sự mình, lúc nầy. Hôm kia có chàng đãng tử ngậm ngùi tiễn cố nhân sang sông. Sông Đà Rằng cuồn cuộn nước nguồn đục ngầu như đào xé lòng hắn nát ra. Không thuyền không bến. Nhưng người đã đi bằng những chiếc thuyền lá... vàng lác đác mà gió heo may thả xuống ven sông. Bằng tấm thiệp hồng hắn xếp làm con thuyền giấy, thả xuống dòng nước vô tâm. Rồi vỗ tay than:
Người đi neo bóng bên bờ
Cho sông thêm tội nước chờ thuyền lui
Nước đau từng sợi ngậm ngùi
Cuốn tình tôi chiếc lá vùi đáy sông...
Có kẻ gặp hắn đứng trầm ngâm bên bờ sông suốt buổi chiều trông hệt như một... triết gia trông vời dòng nước "nhất khứ bất phục phản" mà suy gẫm chuyện đời ngang trái oái oăm. Hỏi không nói, thưa không ừ, đùa không giận, chọc không cười ; hắn chỉ ngón tay lên trời mây bàng bạc ra dấu bảo kẻ kia im lặng. Rồi thơ thẩn.
Chàng đãng tử ấy mang bộ mặt và hình dung của tôi.
Làm sao biết, tôi đang làm-ra-vẻ thất tình hay đang thất tình đau khổ thật sự mà không hay?
Cũng như, làm sao biết nguyên do Trình nhảy ầm xuống sông Hương tìm hồn Lý Bạch đêm nao, là vì say rượu? Say trăng? Hay ngông nghênh làm-ra-vẻ say-ánh-trăng-tan-trong-màu-rượu?
Hỏi ai? Ai đâu tá?
Tiếng trống múa lân vẫn vang dội khắp phố. Đèn đuốc lung linh. Trẻ con hát nghêu ngao ngoài ngõ. Mặt trăng như mỉm cười.
Bạn tôi, tôi đang buồn khóc! Khóc cho nàng Trăng, cô Hằng, chú Cuội. Khóc cho đứa-bé-là-tôi-ngày-nào bây giờ lỡ lớn khôn, trót nhìn thấy khuôn mặt lồi lõm xấu xí của nàng trăng qua những tấm hình các phi hành gia chụp được. Tội nghiệp chị Hằng Nga gánh cung Quảng Hàn, chú Cuội vác cây đa lên vai cao chạy xa bay khỏi cái trí-óc-người-lớn của tôi. Nhưng làm sao họ yên thân dệt chuyện thần thoại cho trần gian được, khi những dấu chân thô kệch dị hợm của Amstrong, Aldin ; những máy móc quỷ quái ác hiểm đột nhập chốn thần tiên kia?
Bạn tôi, Trình Ô Lâu, trăng chết rồi ư? Sau đêm ta bơi thuyền chạy rước nàng về nơi... siêu thoát. Vâng, Trăng sáng tuyệt vời một đêm đó thôi. Ngàn đêm sau, chỉ còn trăng bạc nhược, trăng cô phòng, trăng chinh phụ, trăng dặm trường, trăng chiến địa...
Và trời đất cũng chỉ có một mùa Thu Xưa Mơ Mộng. Nay, hàng năm, ta đón thu vàng, thu sầu, thu chiến trường...
Sông Hương đã loang màu khói lửa
Con đò đã thủng ván gãy chèo?
Người lái đò đã bỏ sông bỏ bến?
Đại Nội ngậm ngùi ôm phế tích tang thương.
Ngôi nhà cổ kính của Tú nghẹn ngào và tấm tôn viện trợ lên mái ngói rêu phong.
Vân sắp uốn cao mái tóc thề đen mượt màu gỗ mun.
Huế, nay còn lại gì cho ta? Trình vẫn hẹn tôi về, giữa một đêm thu. Và hai đứa luôn luôn lỗi hẹn.
Huế soi bóng cũ trong Bửu Tú, người thanh niên hoàng phái trụ trì ở đường Chùa Ông, hai mươi mấy năm nay, chưa đi ra khỏi Huế vài chục cây số, chưa nếm mùi đời, chưa hề làm tôi giận. Cứ giữ chặt chiếc chìa khóa mở cửa cái kho tàng kỷ niệm ngọt bùi thanh tao (như chén chè hạt sen lồng nhãn do tay Vân nấu), nghe Tú. Chờ tôi.
Tôi sẽ về ngồi giữa căn nhà thơm mùi cổ kính vương giả ấy nói chuyện ngày xưa. Như mười năm qua, tôi vẫn thỉnh thoảng quay về, xuống sông Hương tắm rửa bụi bặm giang hồ trước khi đến thăm Tú, chào Vân.
Nhưng tôi hiểu, sau mùa trăng này, nếu trở về Huế tôi sẽ không còn thấy bóng Vân nữa. Bởi, lòng đã ngăn cách một dòng sông! Lúc đó, lại có chàng đãng tử đứng trầm ngâm bên bờ suốt buổi chiều trông hệt... một thằng điên! Hắn sẽ tìm một con đò mặn thả trôi ra giữa dòng sông Hương, buông thả đời mình? Để lãng quên.
PHẠM NGỌC LƯ
22-9-72
(Trích tuần báo Mây Hồng số 16, tuần lễ từ 31-10 đến 7-11-1972)

