Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Miên Tường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Miên Tường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

CHIẾC VỎ ỐC CỦA TỊNH ĐÔNG - Lê Miên Tường


Nhờ đi về cùng với H cho nên tôi gặp Tịnh Đông. H giới thiệu và Tịnh Đông gọi tôi bằng chú Huỳnh. Trước đó tôi cũng đã đôi lần thoáng thấy Đông khi tôi đến chị Phúc chơi.
 
H mời tôi về ăn cơm nhân tiện coi giùm nhà cho chị Phúc đi đám cưới người cháu họ. Tôi đồng ý nhưng cũng hỏi sao H không coi, H nói chiều H bận phiên trực 24 giờ. Tôi lại chỉ sang Tịnh Đông, H nói Đông không kham nổi với lũ em "con trời" nghịch phá.
 
Con đường chói lóa với cơn nắng đầu mùa. Tịnh Đông đi xa khỏi những bóng cây để sưởi ấm thân thể. Đây là cơn nắng thứ nhất sau hai tháng mưa dài lê thê. H nghịch đuổi mấy con chim sẻ đang đùa giỡn tắm nắng trên bãi cát trống của căn nhà có giàn hoa giấy đỏ tươi. Con chó Tây đen luốt thích chí đứng lè lưỡi liếm khúc xương gần đống rác. Tịnh Đông cúm rúm đi kề tôi tỏ vẻ sợ. Tôi hù. Con chó co giò chạy mất sau ga ra có chiếc xe hư nằm dềnh dàng. H đưa tay chỉ mấy trái bơ chín cuối mùa mắc lỏng xỏng lẻ loi trên cành bơ. Tôi nói ăn xong một trái bơ thấy hình như ngứa ngứa ở cuống họng. Tôi ghét. H cười nói anh không biết ăn. Tịnh Đông ngắt đóa hoa mười giờ bỏ cuống ngậm khít giữa hai hàm răng trắng.
 
Chúng tôi tới nhà lúc chị Phúc đang khép cửa sắp đi. Tôi chào. Chị Phúc cười chào lại. Chị Phúc ôm gói giấy vàng điệp với màu áo. An thường nói An thích nhất màu vàng. Màu vàng là màu kiêu sa.
 
H tình nguyện xuống bếp làm cơm cho Tịnh Đông rảnh giờ thêu áo. Bọn em Đông đang xúm nhau coi đá dế dưới gốc cây mít la ó om xòm. Chị Phúc nói cây mít là mít đực không có trái, khiến đứa con thứ tư của chị ngây ngô hỏi: lạ hê. Mít mà cũng có mít đực. Thế con là đực hay cái hả me?
 
Tịnh Đông trải vạt chiếc áo trắng lên bàn. Tôi ngồi xuống ghế đối diện.
 
- Thêu cái gì cho đẹp chú? - Tịnh Đông hỏi.
 
- Thêu một cánh hoa mười giờ - Tôi trả lời.
 
- Làm sao vẽ hả chú? - Tịnh Đông hỏi thêm, xong cầm đóa hoa mười giờ vừa hái ở dọc đường đưa lên ngắm nghía. Ngắm rồi bỏ xuống.
 
- Thì gắng mà vẽ - Tôi nói.
 
- Khó ghê, Đông không có hoa tay. Ở lớp, tới giờ vẽ Đông chuyên môn gật cho nên Đông chuyên môn bị gậy.
 
- Thì gắng.
 
- Thôi chú vẽ giúp Đông đi. 
 
- Mệt.
 
- Vẽ giúp đi mà. Tội Đông.
 
- Ờ... ờ.
 
Tịnh Đông đi lấy cái gạt tàn thuốc, cục tẩy hai màu xanh đỏ và cây bút chì chuốt nhọn. Tôi vẽ.
 
Tịnh Đông để cái gạt tàn gần tách trà ướp sói. Đầu tiên tôi vẽ cuống lá. Cánh hoa mới hái còn ướt sương.
 
Tịnh Đông nói:
 
- Chú vẽ cho đẹp nghe.
 
- Xấu thôi.
 
- Chú vẽ xấu nếu có nhỏ bạn nào ở lớp hỏi ai vẽ Đông sẽ nói chú. Lúc đó Đông sẽ bêu chú cho mà coi.
 
- Bêu thôi không vẽ. Chưa chi đã "phản".
 
- Thế chú gắng vẽ đẹp để Đông "khen". Tụi bạn Đông sẽ "lé" mắt.
 
- Cô bé lý luận nghe "ngọt" quá. Chú chịu thua cô bé và đành phải gắng vẽ cho đẹp.
 
- Đẹp nhất nghe.
 
- Vừa vừa thôi.
 
- Đẹp nhất thế giới đi. Cho oai.
 
- Thôi, đừng cho chú đi tàu bay giấy. Rớt đau.
 
Tịnh Đông cười. Tôi vẽ sang phần hoa. Tôi vẽ hai nụ hoa rời nhau có vẻ lạ.
 
Tịnh Đông hỏi:
 
- Hoa mười giờ là hoa chi hả chú?
 
= Là hoa mười giờ.
 
- Là sao chú?
 
- Là hoa chỉ nở lúc mười giờ.
 
- Còn mấy giờ khác hoa làm chi chú.
 
- Hoa đâu có "tay" mà làm.
 
- Không. Làm khác cơ.
 
- Khác sao?
 
- Là hoa có nở không?
 
- Không. Hoa khép lại và tàn đi.
 
Tịnh Đông chép miệng:
 
- Tội nghiệp. Khi không "trời" sinh ra thứ hoa quá tội nghiệp.
 
Tôi bưng tách uống ngụm trà.
 
- Thế mới là luật "trời". Người thì có người thế này kẻ thế khác. Hoa thì có hoa đẹp hoa xấu. Có hoa thơm có hoa hôi. Có hoa lâu tàn dĩ nhiên phải có hoa mau héo. Đông coi, con rắn dễ ghét thế mà đôi khi nó sống tới hai ba năm trong lúc con phù du tội nghiệp sống không tới hai giờ.
 
- Phù du là con gì hả chú?
 
- Là con thiêu thân.
 
- Là sao chú?
 
- Nó đâm đầu vô bóng đèn chết cháy nên gọi là thiêu thân.
 
- Nó dại ghê.
 
- Không phải dại đâu.
 
- Không dại sao nó không "đi chơi" chỗ khác lại đâm đầu vô bóng đèn chi?
 
- Cái số của nó vậy.
 
- Cái số là sao chú?
 
- Cái số là cái số. Nói ra dài giòng lắm.
 
- Chú nói đại khái đi.
 
- Ví dụ một kẻ kiếp trước cha mẹ ăn ở thất nhơn ác đức thì kiếp này kẻ ấy phải trả nợ, phải sống cực khổ đọa đày. Như thế, cái số của kẻ ấy khốn đốn. Nếu kiếp trước cha mẹ kẻ ấy hay bố thí làm phước, tất nhiên đời sống kẻ ấy sẽ sung sướng. Đó cũng là cái số. Hoặc giả dụ như chú chỉ sống tới năm mươi tuổi. Như thế cái số của chú chỉ sống tới năm mươi tuổi. Ví dụ Đông sống dai tới chín mươi tuổi. Như thế cái số của Đông sống tới...
 
- Thôi. Sống tới chín mươi tuổi ngán lắm.
 
- Sao ngán?
 
- Sống tới chín mươi tuổi má hóp răng rụng lưng còm... trông mất cả mỹ thuật. Mất sướng.
 
- ...
 
- Bộ chú thích Đông như bà già lắm à?
 
Tôi đã vẽ xong. Tịnh Đông cười hồn nhiên. Tôi cười theo. Tịnh Đông lấy từng cuộn chỉ so với màu của cánh hoa thật trên bàn.
 
Một đứa nhỏ rời khỏi đám đá dế chạy vào nhà thò đầu vô ô cửa, hỏi H:
 
- Cơm chín chưa dì?
 
H vừa xào nấu vừa nói:
 
- Chờ chút nữa, ông "trời con".
 
- Dì nấu chậm quá. Me nấu mau gấp mấy dì.
 
- Chậm thì tối mới có.
 
- Sức mấy.
 
- Chậm nữa thì sang năm mới ăn.
 
- Cháu đói gần chết rồi đây.
 
- Đói rán chịu. Ai vẽ tham ăn.
 
- Dì không cho ăn cháu phá.
 
- Phá đi.
 
- Phá liền chứ sợ gì ai. Cháu là tướng cướp... cụt chân à à... Ta là...
 
Đứa nhỏ cầm múa khúc cây huơ huơ vào cánh cửa kêu lẻng xẻng.
 
H dợm chân dọa đuổi. Đứa nhỏ cười hê hê co giò nhảy cò cò trở lại gốc mít. Tôi ngồi nhìn Tịnh Đông chăm chú thêu.
 
Từ lâu tôi đã van nài cũng như cự tuyệt thật nhiều mối tình. Cự tuyệt cái đáng cự tuyệt. Van nài điều nên van nài. Tôi đã từng bỏ phòng trốn đi khi có vài người đến kiếm ; nhưng trái lại tôi thường xuyên gởi thư cho An ngót năm trời nay tuy đôi lúc An chẳng viết cho tôi một chữ hoặc đôi lúc cao hứng một tháng An gởi dồn cho tôi ba bốn cái. Điều này tôi không thể cắt nghĩa. Tôi nhìn tôi rõ hơn. Tôi hiểu tường tận tôi hơn. Tôi chủ quan cho rằng nếu có tình yêu thứ thiệt, thì mỗi người chỉ có cơ hội "thiệt" một lần. Còn bao nhiêu lần khác đều miễn cưỡng giả dối.
 
Nếu tôi hái tặng anh một đóa hoa tôi đã hái chưng trên bàn suốt buổi sáng, dĩ nhiên vì lịch sự anh cũng nhận lấy nhưng không mấy hài lòng. Và trái lại, tôi cũng thế. Tình cờ lên rừng chơi, hái được một đóa hoa dại, anh sẽ thích nó. Nếu không biết tên hoa, anh lại càng thích hơn. Nhưng đây chỉ nói về tình yêu.
 
Tôi đang nói đến tình yêu và nhìn Tịnh Đông. Tịnh Đông có khuôn mặt bầu bĩnh và giọng nói thanh trong giống hệt An. Tôi xa An hai năm rồi. Ngày tôi đi An chỉ biết mút cà rem cây nhưng chắc bây giờ An đã biết ăn kem ba màu. Ăn kem ba màu thì phải vào quán. Tôi ở đây rồi. An sẽ vào quán với ai? Một người khác? Lâu nay tôi sợ nhất câu: "một người khác". Tôi cũng sợ thêm hai chữ nữa: "Thực tế". Sợ, nhưng chắc khó tránh khỏi. Sự việc phải xảy ra như thế. Một đứa con gái sẽ làm gì trong suốt thời gian 24 tháng dài đằng đẵng? An sẽ làm chi trong 2 năm dài? Học ư? Ừ, học. An học chăm, giỏi, vừa hoàn tất xong tú tài thật đấy ; nhưng ngoài những giờ học rỗi rảnh, An mơ mộng gì? Tuy tôi muốn nghĩ đẹp về An nhưng tôi khó đánh đổ nổi ám ảnh và thành kiến bi quan về kiếp người và lũ ngạ quỷ giăng bẫy quanh đời sống rình chờ. Thư mới nhất gởi đây An có nói An sẽ lên thăm. Tôi hãy lo chuẩn bị đi. Tôi vẫn mong. Nhưng tôi chẳng chuẩn bị chi cả. Đối với An, tôi bao giờ cũng thế. Tuy nhiều phen An đeo đẳng như một ám ảnh theo quấy rầy tôi, nhưng với tôi, An có mặt như một cái gì khiến tôi thấy khó thiếu. Nói ra điều này tôi không sợ tôi lầm. Tôi tin tôi. Khi yêu tôi không biết tự ái nên hóa ra tôi ngu ngơ dại khờ như một đứa bé.
 
Tịnh Đông thêu thật khéo. Màu hoa đỏ tươi nổi bật trên nền vải trắng trinh. Tôi nhớ hình bóng An qua Tịnh Đông. Điều này bậy thật. Nhưng tôi chẳng thể cưỡng nổi tôi. Nếu rõ ra, tôi rất mong Tịnh Đông hiểu cho tôi. Tôi là đứa hay xúc động dại dột.
 
Tịnh Đông vẫn tiếp tục di động mũi kim. Màu đỏ của nụ hoa đã hiện lên vài phiến. H ca nhỏ mấy đoạn nhạc rời trong bản Love story. Tôi nghịch nhễu nước bôi vẽ lên bàn loang lổ mặt một người nữ có mái tóc dài như Tịnh Đông. Tóc như tóc của François Hardy. Tịnh Đông hát nhỏ theo H. Tôi ngồi nghe.
 
Bọn nhỏ em Đông đã dời khỏi đám đá dế dưới gốc cây mít lần lượt vào ngồi thứ tự ở bàn ăn. Một đứa nhỏ nhất chậm chạp vô sau thấy chỗ-ngồi-thuận-tiện đã bị choán hết nên tức quá la lên:
 
- Ăn mà... ngồi.
 
Cả bọn nghe đứa nhỏ nói vô lý quá nên cười vang:
 
- Ăn mà không ngồi thế ăn chi? Bộ ăn đứng hả?
 
Đứa nhỏ vừa tức vừa mắc cỡ nên thút thít khóc. H ê a dỗ đứa nhỏ. Nồi cơm bốc hơi và chúng tôi ăn ngon lành. Món cá nục kho khô làm tôi nhớ nhà. Tôi xa nhà đã hai năm thường ngồi ăn một mình, thường ngủ ngáy một mình, thường đi rông một mình nên tôi biết uống rượu.
 
Bọn nhỏ cười đùa vô tư trong khi ăn. Tôi muốn như chúng mà không được. Sau bữa cơm H đi trực, Tịnh Đông tiếp tục thêu và tôi nán thêm ngồi đợi chị Phúc về. Bọn nhỏ kéo nhau đi ngủ.
 
Một lát tôi cũng kêu buồn ngủ. Tịnh Đông tới mở tủ lạnh rót ra cốc cho tôi một ít rượu Black and White. Tịnh Đông không cho tôi uống nhiều. Cô bé sợ tôi say. Nhưng rượu cũng chẳng có công hiệu. Tịnh Đông xuống bếp chế cà phê. Tôi lấy áo ngồi tẩn mẩn bắt chước thêu. Tịnh Đông bưng cà phê lên nói chú thêu không được đâu, coi chừng hư của Đông đấy. Tôi nói Đông bày chú thêu với. Đông chịu. Tôi uống cà phê và học thêu. Tôi thêu cuống hoa màu xanh lục và nghĩ nhiều về Tịnh Đông. Đôi mắt có bề sâu và nụ cười kính vỡ như con Phượng hoàng bị ná chùn cánh đáp mình xuống bờ trúc tre trú ẩn. Tại sao tôi lại ngồi đây coi nhà giùm cho chị Phúc?
 
Tại sao tại sao.
 
Buổi chiều tới vàng trong màu bông cải. Nhưng buổi chiều không khiến cái nhìn tôi đâm suốt để thâu thấy thời thơ ấu. Tôi không có thời thơ ấu. Có cũng như không. An đã có biên giới. Và những ngày thanh niên tôi trôi dạt như bọt bèo. Vì thế, tôi thèm. Tôi thèm theo cùng bọn nhỏ lên đồi thả diều chạy nhảy vui chơi. Tôi thèm đi nhưng Tịnh Đông bắt tôi ngồi lại. Bắt tôi ngồi lại và ngập ngừng hỏi tôi là thế nào với H. Tôi không muốn Tịnh Đông bị ngập lút bởi ý nghĩ vẩn đục nên hỏi lờ rằng sao Đông không ngủ. Đông nói Đông cố thêu cho xong áo mai đi Nha Trang thăm nội. Tôi nói trường sắp khai giảng rồi đi chi kịp. Đông nói Đông đi một tuần thôi, Đông sẽ về trước Trung Thu để tha hồ ăn bánh kẹo của chú chứ. Tôi nói đi ít không thú. Đông lại hỏi tôi về H.
 
- Chú là gì của dì H?
 
- Là gì là là gì? Không là gì cả.
 
- Nhưng Đông thấy chú hay đi chơi với dì H.
 
- Đi chơi là một việc. "Có gì" với H lại là một việc khác.
 
- Nhưng chú sẽ bị mang tiếng.
 
- Chú không cần.
 
- Đông thấy dì H có vẻ mến chú.
 
- Có-vẻ-mến khác với đã mến. Nhưng chú coi H như một đứa em. Hay như một người bạn.
 
- Dì H có biết vậy không chú?
 
- Không biết rồi cũng biết. 
 
- Khi đó dì H sẽ "từ" chú.
 
- Khi đó Đông có theo phe dì H mà "từ" chú không?
 
Đông mỉm cười gật đầu. Toàn diện nụ hoa đã nổi bật lên trên thân áo.
 
Cho chú cô đơn một mình cho bõ ghét. Tịnh Đông đùa. Tôi nói tôi không sợ. Đông lại hỏi ở nhà tôi thường làm chi. Tôi nói những giờ rảnh tôi viết lách, đọc sách và đi lêu bêu ngoài đường. Tôi cũng hay tới nhà thờ vào những năm giờ ba mươi sáng khi không có ai. Nếu những lúc có ý nghĩ hắc ám hoặc về cái chết nổi dậy tôi tụng kinh Kim Cương, Bát Nhã và ngồi Thiền. Đông cười nói chú đi tu đi. Tôi nói thế cũng như tu rồi. Đông nói phải vô chùa mới kêu là đi tu. Tôi nói tôi tu tại gia. Đông nói chú đi tu chú bỏ cái cô gì đó cho ai. Tôi hỏi cô gì. Đông nói cô An đó. Tôi hỏi sao biết. Đông nói hôm trước lại chơi chú bỏ quên quyển sách trong đó có thư của An. Tôi ờ ờ nói cô bé tò mò không tốt. Tịnh Đông nói với chú Đông mới tò mò. Tò mò vì chú không có xấu. Có xấu cũng cứ tò mò như thường. Tôi hỏi đọc thư Đông thấy sao. Tịnh Đông nói An viết hay và chữ đẹp. Rồi Đông hỏi tôi:
 
- An có đẹp như chữ An viết không chú?
 
Tôi trả lời:
 
- An giống Đông như đúc.
 
Nghe tôi nói xong, giọng Đông chùng xuống tự nhiên:
 
- An giống Đông nên chú nhìn Đông chú nhớ... An phải không?
 
- ...
 
- Đông bị chú... "lợi dụng" rồi đó.
 
Đông nói và cố nở nụ cười để tạo vẻ hài hước với dụng ý che giấu. Nhưng tôi biết Đông sắp khóc.
 
- Nhưng Đông không trách chú đâu.
 
Nói hết câu Đông cúi mặt xuống gần sát tà áo trắng. Cuống hoa màu xanh lục Đông thêu sắp xong. Tự nhiên tôi thấy lòng bâng khuâng như lúc tiễn người đi trên bến đò ngang.
 
Đông không trách đâu. Nghe Đông nói, tôi tự nguyền rủa mình.
 
Đông không trách đâu. Tôi muốn uống một ly Black and White nhưng Đông không cho. Có lẽ tôi sẽ phải viết một truyện về Đông và nên cho An rõ điều này. Tôi định nói với Đông như thế nhưng chị Phúc đã về. Tôi nhóm lưng. Đông xếp áo lại đứng dậy đưa tôi ra cửa. Chị Phúc dặn chủ nhật tới chơi chị nấu cháo lươn cho ăn. Tịnh Đông nói:
 
- Đi Nha Trang về Đông sẽ cho chú chiếc vỏ ốc thật đẹp. Chú thích không?
 
Tôi nói thích và bỏ đi.
 
Lúc rời khỏi nhà chị Phúc tôi ra đường đi lông bông thì gặp người bạn quen. Hắn mời đi cà phê. Tôi đi. Cà phê xong hắn kêu tôi về nhà uống rượu. Tôi đồng ý. Uống rượu vào tôi choáng váng ngây ngất nằm nghĩ tới Tịnh Đông. Nghĩ tới chiếc vỏ ốc. Vỏ ốc thì thường trống không và bạc hạnh. Đáng lẽ Tịnh Đông sẽ đem tặng tôi mối tình thánh thiện nhưng bởi lẽ có An rồi nên Đông tặng tôi chiếc vỏ ốc. Tặng cái trống không muộn màng.
 
Tôi nghĩ thế và cười buồn. Nghĩ rồi nằm ngủ mê như chết. Buổi sáng tôi dậy lúc 11 giờ thân thể rời rã. Tôi đi tắm, uống cà phê và ăn cơm. Chỗ mua thuốc chịu vì thiếu nhiều quá nên người đàn bà không cho tôi ghi nữa. Người bạn để gói thuốc của hắn lại cho tôi sau khi vô đồn. Tôi lười biếng nằm hút hết điếu thuốc cuối cùng trong bao mới dậy đi. Buổi chiều nắng rực rỡ đồi trà.
 
An nói tôi ham chơi và liều. H nói tôi ích kỷ, bướng và duy ngã. Chị Phúc thầm ghen với lối sống bất cần đời của tôi. Tịnh Đông không bình phẩm chi tôi cả chỉ khuyên tôi bớt thuốc lá cà phê và hãy ngủ cho nhiều vào.
 
Tôi bị ngập lút bởi sự tấn công tới tấp của thị phi và danh từ. Kẻ quen biết cho tôi là kiêu ngạo ngông nghênh. Tôi nhớ một câu của Anton Tchekov: "Người ta nói thế này thế nọ về tôi. Tóm lại chỉ là càn dỡ. Tôi chỉ là một người. Tôi yêu thiên nhiên và văn chương. Tôi ghét hủ lậu và chuyên chế."
 
Đi loanh quanh một hồi, tôi ghé Tịnh Đông. Những con đường có nhiều ngõ rẽ trồng đầy cây xanh và mặt trời buổi chiều mong manh chiếu từng tia nắng quái.
 
Đám đông đang chào xáo xúm xít trước nền nhà loang đất đỏ. Tiếng dùi nện dội đập và tiếng chị Phúc thảng thốt la lên. Tôi bước dội vào cảm thấy chói tai. Bọn nhỏ dạt ra hai bên cửa.
 
Người ta đang buộc cột nắp chiếc hòm gỗ nâu bằng dây thừng. Chị Phúc dã dượi nhoài mình vào đó với mớ tóc bù xù.
 
H đưa tôi chiếc áo trắng rách đầy máu của Tịnh Đông. Tôi cầm lấy xong nâng cánh tà lên nhìn đóa hoa mười giờ cũng đỏ bầm như máu. H nói lúc xe hồng thập tự chở xác Tịnh Đông về nhà thương, nhìn thấy, H ngất xỉu. Tịnh Đông đây sao?
 
Tôi xếp áo và hỏi H xin được cất, H gật đầu. Nếu An có lên, tôi sẽ kể cho An nghe về Tịnh Đông và chiếc vỏ ốc của Đông hứa tặng tôi sau khi ở Nha Trang về.
 
Nhưng Đông sẽ không tới được Nha Trang. Đông sẽ không còn như lời hẹn về trước Trung Thu để tha hồ ăn bánh kẹo và đòi tôi dẫn đi ngắm trăng.
 
Tôi nghĩ rằng lúc Tịnh Đông nảy ra ý định tặng tôi chiếc vỏ ốc Đông đã tự ví mối tình mình bất hạnh như vỏ ốc. Như thế tôi khỏi phải mất công chờ: Đông đã tặng tôi cái rỗng không vắng ngắt của một cảm tình đến muộn.
 
 
LÊ MIÊN TƯỜNG         
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 70, tuần lễ từ 28-9 đến 5-10-1972)
 

Thứ Tư, 23 tháng 7, 2025

CÔ HỌC TRÒ THÚ VỊ - Lê Miên Tường


Một ngày giữa tháng sáu. Buổi đầu, lúc vào nhận công việc dạy dỗ, gặp học trò, học trò chào thầy như thế này : thưa thầy. Chào với con mắt nheo nheo rất chi là ngổ ngáo. Ngổ ngáo nhưng dễ thương. Cái chào như ngụ ý : học trò này không phải vừa. Đừng tưởng bở.
 
À. Đụng phải thứ "hip" chính cống rồi đây. Thầy tự nhủ thầm như vậy. Tuy nhiên, thầy không lấy làm lo, trái lại, cơn kích thích cảm khoái về một cuộc chơi đối với một kẻ trong ê kíp người lâu nay thầy cho không ra gì, đột ngột nổi lên khiến thầy thích thú. Thích nên bắt đầu. Nhưng bắt đầu một cách dè dặt. Phải dò dẫm từng bước. Phải đo từng chút mắt nhìn. Phải cân từng ly lời nói. Phải cảnh giác từng điệu đi đứng mới mọc. Phải đủ thứ. Không phải cho học trò, mà về phía chủ nhà. Xưa nay, bọn nhà giàu vất tiền mướn thầy dạy dỗ cho con cái, ít có người coi trọng ông thầy. Đã không trọng lại còn tỏ ý coi thường. Nhưng thầy không cần chi hết. Chỉ dạy chơi. Không phải, nghỉ. Sòng phẳng.
 
Nhưng gia đình của học trò thuộc loại hiểu biết. Không kính trọng quá đáng. Không vồn vập vượt bực. Chỉ ở mức đối đãi vừa phải.
 
Đó là về gia đình. Riêng học trò thì khác. Ở những buổi đầu, thầy gặp phải sự ngấm ngầm chống đối. Chống một ít thôi. Chống, để khỏi bị đồng hóa. Lạ gì tính ngang ngạnh của các cô bé vừa lớn. Có cái gì các cô chịu đồng ý cho đâu. Cứ luôn luôn làm ra vẻ ta đây bất cần và đứng về phía đối lập. Mặc. Thầy cứ tỉnh bơ dạy. Tỉnh bơ trình diễn bộ mặt nghiêm nghị lầm lý suốt hai giờ học. Đệ tam cỡ như cô bé cũng chưa thông minh lắm. Chưa biết "quậy" ông thầy. Chưa có những câu hỏi lắt léo. Vị thứ cuối năm đứng thứ ba, đè đầu cả mấy chục mạng, như cô bé, ở cái tỉnh lẻ miền núi này, đối với những trường lớn ở các thành phố lớn, chưa thấm vào đâu. Tuy nhiên, để bù vào cô bé có sự nhận xét tinh vi. Có cái nhìn sắc, thấp thoáng vẻ mơ mộng nghiêng hẳn theo giòng chiêm ngưỡng cây cỏ, đồi núi, thiên nhiên.
 
Ít ra, với đời sống của tốp nhà giàu như cô bé, giữa miền vốn hoang rỗng của tâm hồn, cô bé là kẻ ngoại lệ, biết tự cấy vào đó những ngọn lá, ươm xuống đó những hạt mộng, chảy qua đó từng con suối mùa thu lăn tăn sóng gợn các giòng xanh, đưa cô bé thăng hoa lên mấy nấc, vượt thoát khỏi đời vốn bị bao vây bởi tiền, danh và giả dối.
 
Với cô bé, đã có sự dung hòa. Với cô bé, đã có sự cộng chung tuyệt vời giữa những thao thức hồng và mơ mộng biếc. Như thế đó. Nói về một cô học trò có tâm hồn điệu nghệ nhưng lạc loài như tiếng kêu cô độc, vút lên, cao, như đưa đi, như bay thoát, nhưng cõi thinh không câu kết với cơn gió mông lạnh đầu thu, cột níu, bắt víu lấy đôi cánh mỏng đang đập bay theo cùng cái hun hút của dặm trường. Cùng độ loãng hụt hẫng của bát ngát những chân trời tăm tắp. Của điệp điệp rừng cây xa. Của trùng trùng đồi núi rộng.
 
Thầy nghĩ về học trò bằng những khơi dẫn khách quan, đẹp như thế. Còn học trò thì sao?
 
Với mấy buổi đầu, hoặc bắt chước, hoặc tỏ sự mềm dịu chống đối, học trò cũng trình diễn bộ mặt lầm lỳ.
 
Nói cái đáng nỏi. Hỏi điều đáng hỏi. Im lặng chỗ nên im lặng. Thầy và học trò "triển lãm" hai bộ mặt như đưa đám ra như để đối chọi nhau. Như cùng hai cực dương xô đẩy. Nhưng sức chịu đựng của học trò phải thua thầy. Thua là cái chắc.
 
Không lâu, một tuần sau, học trò đã tỏ cho thầy rõ sự thua. Tỏ một cách rất trẻ con. Rất đáng yêu.
 
Đầu tiên, học trò nói với thầy vài câu. Đại khái như : Thầy biên chữ lu quá, bay bướm quá, nhìn không rõ. Thầy vẽ vòng tròn đó chưa hoàn toàn tròn. Thầy cho bài tập nhiều quá, làm bắt mệt...
 
Biết là cô bé nói kháy, cho hả. Mặc. Biên chữ lu thì biên lại. Vẽ vòng tròn chưa hoàn toàn tròn thì xóa, vẽ vòng tròn khác. Rên bài tập nhiều, thầy sẽ cho ít. Ông thầy ổng kiên nhẫn lắm. Mọi sự ông đều chiều theo ý cô bé. Chịu. Cô bé hết cớ để giận lẫy. Hết cớ thì tìm. Tìm mãi. Một cớ nhỏ cũng thêm thắt cho nó lớn. Chẳng hạn như với cây bút nguyên tử, thì nói : bút chi viết mực ra cả cục, cả cục. A lê, vụt xuống bàn. Với cây thước kẻ, thì nói : mấy ông thợ đúc thước, làm biếng quá, đúc thước cong vòng. A lê, vụt. Với vở thì vở giấy không trắng. Với sách thì sách in chữ mờ. Hết cớ sách vở bút thước, bí quá, bèn sang cớ thiên nhiên. Với thiên nhiên thì trời mưa chi mưa mãi. Gió chi lạnh ác v.v...
 
Tội cho lũ sách vở. Tội cho thiên nhiên bị cô bé rầy oan. Ông thầy vẫn phớt tỉnh ăng lê. Đôi khi ông quay mặt cười thú vị. Nếu thấy được ông thầy cười, học trò liền chớp lấy cơ hội đó để nói một câu (cũng tức cười):
 
- Học trò có chi mà thầy cười? 
 
Ông thầy chọc thêm cho tức:
 
- Cười mà cũng cấm.
 
- Cấm chứ.
 
- Khó quá.
 
- Nghiêm nữa.
 
- Nghiêm như thế này này.
 
Này... Này... Cô bé kéo dài chữ này ra, rồi ngậm miệng, nhướng mắt lên, phình má ra... đại khái nói là phải nghiêm thế. Nhưng mặt đó không phải mặt nghiêm. Mặt đó để chọc cười. Thế là cả trò lẫn thầy đều cười.
 
Bầu không khí lúc đó hơi dễ thở một chút. Nhưng cười cũng chẳng lâu. Ông thầy lại đưa bộ mặt lầm lỳ ra. Học trò cũng như thầy. Có khi nghiêm hơn. Mà là nghiêm giả. Ai cũng giả. Ai cũng giả vờ hết.
 
Thầy chăm chú giảng bài. Học trò chăm chú nghe. Giảng xong ông thầy ngồi nghỉ. Học trò ngồi đối diện với thầy hí hoáy biên chép, thỉnh thoảng liếc mắt lên nhìn thầy cầm chừng. Thầy tỉnh bơ đọc sách. Đôi khi học trò cắn bút vờ suy nghĩ nhưng thật ra đang tìm cớ để "làm khó" thầy chơi. Biết "tim đen" của cô bé, ông thầy cố giữ. Không để sơ hở.
 
Nhưng dù cho cố giữ, thỉnh thoảng thầy cũng phải lỡ quên. Ví dụ, trời đang mưa lạnh, lúc giảng bài xong, ngồi nghỉ, cảm thấy thèm một hơi thuốc quá, thầy quên khuấy sự "chực gờm" của cô bé, bèn mò túi rút ra một điếu, gắn lên môi, bật lửa, hít hơi đầu tiên khoái chí, chưa kịp nhả khói ra, sực nghĩ rằng cô học trò khó tính này không thích ai hút thuốc, tức thì, vội vàng dựng cuốn sách lên che, xong từ từ thở khói xuống gầm bàn. Một cơn gió ác ôn, lúc đó, sẽ chui lòn qua khe cửa, thổi tạt một ít khói về hướng cô bé. Cô bé cười mỉm. À, cơ hội đây rồi. Thầy có giữ đằng trời. Thế là cô bé bỏ viết, gấp vở, làm ra vẻ thật quan trọng, đưa hai tay ra trước mặt quạt lia lịa để đuổi khói, trông điệu bộ như sắp chết ngộp đến nơi, làm như khói nhiều lắm (Thật ra chỉ một tí khói thôi. Không để ý sẽ không thấy). Tay quạt khói và miệng cô bé hô lớn:
 
- Ngồi với con gái mà cũng hút thuốc?
 
Thầy chưa kịp phân bua gì, dường như thấy câu nói của mình có vẻ sao sao, cô bé vội sửa lại:
 
- Ngồi với học trò mà cũng hút thuốc?
 
Chữ "con gái" đổi thành chữ "học trò". Ông thầy nghe thế, chợt hiểu ra, lấy làm thích thú quá, nên quên chuyện phân trần, lại buột miệng nói một câu gián tiếp bày chỗ nhược của mình cho học trò thấy:
 
- Tại thèm quá. Trời mưa lạnh hút thuốc mới đã.
 
- Tập nhịn cho quen.
 
- Bắt nhịn như thế là ác.
 
- Ác ở chỗ nào đâu?
 
= Ở chỗ đó đó.
 
- Đâu?
 
- Thì ác. Ác lai ác. Ở chỗ ác đó.
 
- Đâu?
 
- Đâu hoài. Không cho người khác hút thuốc là ác.
 
- Ác rồi có sao không?
 
- Ác là ác báo. Sang năm thi sẽ trượt vỏ chuối.
 
- Sang năm đâu đã thi mà trượt. Nói hớ rồi.
 
- Thì sang năm nữa.
 
- Sang năm nữa, lâu quá, "nguội" rồi, cái ác cũng quên  đi, đâu còn nhớ mà "báo"?
 
- Sẽ có người nhắc "nó" tới báo.
 
- Ai?
 
- Chẳng hạn người-hút-thuốc bị cô bé làm khó.
 
- Thù dai.
 
- Ờ, dai.
 
- Nhưng sang năm nữa chắc chi học trò còn ở đây. Có khi lên Đà Lạt. Như chim bay cái vụt, mất rồi. Ở đó mà nhắc.
 
Hề. Nói xong cô bé nheo mắt cười. Ông thầy cũng cười. Cười vì không nín được. Cô bé tinh nghịch và dễ thương. Những mẩu đối thoại, nói trống, không có chủ từ. Dường như ai cũng muốn thế. Học trò thì không muốn làm học trò. Ông thầy cũng chẳng thích làm thầy. Thầy trò không có ranh giới. Không đẳng cấp. Không có rào cản. Như ngọn gió sớm lồng lộng lên cao, lướt qua bao nhiêu chòm lá còn óng ánh sương, từ đó, tự do nẩy sinh những mơ ước hồng, cũng tinh khiết như buổi sớm và luồng gió tình trường đó. Như nụ cười chưa vẩn đục của hài nhi thuở vừa chui ra khỏi lòng mẹ. Không trách. Không chê. Không kết án. Những gì được dấy động, khởi phát từ tự nhiên, do sự chân thành, đều không mang nhiều mặc cảm tội lỗi nào. Cứ như thế, lòng mở ra chào nhau. Cứ như thế, lòng trải ra thành hai chỗ ngồi chung. Và sẽ ngồi lại với nhau - điều tiên tri (?) - một ngày sắp tới. Mai. Mốt. Hay vài tháng. Một năm nữa? Chưa biết chừng.
 
Những vụ "đấu khẩu" giữa thầy và trò thường được kết thúc bằng các nụ cười dòn, trong. Rồi giờ học hết. Thầy lững thững ra quán cơm. Học trò mở cửa đứng ngó theo, bâng khuâng.
 
Rồi chiều mai, như công thức, thầy lầm lỳ ôm sách tới. Học trò đã ngồi đợi từ lâu. Thầy thường nói với học trò rằng thầy rất ghét những gì có tính cách đều đặn, công thức ; nhưng vì bất khả kháng, thầy rán lăn theo như chiếc xe. Học trò hơi buồn buồn lúc nghe thầy tự ví thầy như chiếc xe. Chiếc xe còn lăn nữa. Mãi mãi.
 
Lần tới, lại vờ quên chuyện cười chiều qua, vẫn như cũ, ông thầy giữ mặt nghiêm. Học trò cũng như thế, nhưng độc đáo hơn một chút.
 
Hai khuôn mặt lạnh. Bàn ghế. Ly trà sâm. Bảng đen. Khăn lau. Phấn viết. Nói. Và trời mưa. Cũng lạnh.
 
Và rồi chuyện gì sẽ xảy ra?
 
Chuyện thương yêu. Chữ viết rất xác định. Bóc trần. Không ngầm giấu. Nói rất rõ, to. Không đậy che.
 
Nhưng chỉ là chuyện yêu thương câm. Âm thầm như những cánh én cuối đông tụ về đất. Nhảy đùa ở đó. Buồn ở đó. Và có lẽ, chết cũng im lìm ở đó. Ở đó, tình yêu. Ở đó, thấp thoáng những cánh quạ đen vờn quanh, nhiều, đen kịt như truyền rao những đe dọa ngầm, nhưng rộng tỏa.
 
Chuyện xảy ra như thế này:
 
Một chiều, như thường lệ, cô bé đang ngồi làm bài. Làm gần một giờ không ra. Làm không ra, đổ quạu, bèn bỏ bút, vùng vằng với ông thầy:
 
- Vì không cho hút thuốc, tức quá, nên mới ra bài khó.
 
Nói xong, cô bé trề môi ra. Thầy định cười, nhưng cố nín, vờ làm mặt nghiêm, nói với học trò:
 
- Khó mới mau giỏi. Ra dễ thôi học chi.
 
- Học trò không thèm giỏi.
 
- Không thèm giỏi, sang năm sẽ đứng chót.
 
- Có sao không?
 
- Đứng chót, sẽ đội hơn năm chục mạng, ê đầu.
 
- Kệ.
 
- Kệ cũng không được. Cái đầu đâu phải tiệm tạp hóa mà "kệ".
 
- Được. Được. Được.
 
- Không được.
 
- Không được cũng được. Nhưng học trò đứng chót, ông thầy xấu.
 
- Sang năm ông thầy đâu còn ở đây nữa mà xấu. Lúc đó học trò sẽ xấu một mình.
 
- Thầy xấu.
 
- Học trò xấu.
 
- Thầy...
 
Cô bé chực khóc. Ông thầy không nỡ, xuống nước nói, thôi thôi, để giảng cho. Đừng đem nước mắt ra dọa. Học trò lầm bầm nói, thèm dọa. Ông thầy lên đứng trên bảng đen. Học trò ngồi nghe nhưng vẫn chưa hết tức.
 
Thầy bắt đầu nói. Những danh từ đại số có vẻ mới. Những hệ thức nhị cấp. Tích Descartes. Tính phản hồi. Tính đối xứng. Tính gián truyền. Tính phản đối xứng...
 
Thầy say sưa nói. Học trò chống cằm nhăn nhó. Thầy viết công thức. Học trò cũng biên chép... Giảng xong bài, thầy hỏi : hiểu chưa? Học trò lắc đầu. Thầy giảng lại. Hiểu chưa? Chưa. Hiểu chưa? Chưa. Thầy vẫn kiên nhẫn. Lần thứ năm giọng thầy hơi khàn khàn. Học trò cúi đầu xuống, rưng rưng. Thầy bỏ tới đứng tựa vào ô cửa nhìn mông ra ngọn đồi trùng điệp rừng cây mịt mù dưới cơn mưa lớn giữa mùa. Rồi học trò nói:
 
- Thầy hút thuốc đi.
 
Thầy hỏi:
 
- Không cấm nữa à?
 
- Bữa nay không cấm đâu. Thầy hút đi.
 
- Ừ, hút. Nhưng hiểu bài chưa? 
 
Học trò không nói. Lại cúi đầu, rưng rưng. Thầy xao xuyến. Học trò buồn bã. Thầy nói, thôi, tôi về. Hết giờ rồi. Bận sau đến giảng tiếp. Học trò ngước mắt lên, khẽ giật mình như vừa đánh mất một cái gì. Thầy ra cửa. Học trò quýnh quíu nói, mưa ướt hết. Để lấy dù thầy che. Thầy không cần dù, đội mưa đi. Quán cơm gần đó.
 
Chiều hôm sau, thầy cảm, không đi dạy được. Thầy bèn nhờ người bạn đem tới cho học trò tấm giấy viết vài dòng : Đau rồi. Học trò được nghỉ mấy buổi đó. Sướng chưa?
 
Nhưng học trò không sướng như ông thầy tưởng. Học trò buồn buồn. Những chiều mà ông thầy lững thững tới gặp học trò như một sự đều đặn, đã khiến học trò chấp nhận lấy sự đều đặn đó là niềm vui đầy, nỗi hạnh phúc lớn. Đôi khi, ta cũng cần có sự thường xuyên, miễn sao sự thường xuyên không thường xuyên lắm. Không đến độ như cái máy. Không đến độ ù lỳ, tuân phục. Vì thế, học trò cũng như thầy, cũng thấy rất cần sự thường xuyên đó. Nên chi, khi thầy đau không đến dạy, học trò buồn quá, tới thăm thầy.
 
Học trò tới, gõ cửa. Ông thầy ra mở. Học trò ngạc nhiên vô cùng. Mặt thầy bơ phờ, hốc hác. Học trò vội cúi đầu, nói nho nhỏ:
 
- Học trò xin lỗi thầy đó.
 
- Lỗi với phải. Vô đây kẻo mưa.
 
- Học trò xin lỗi lần nữa.
 
Ông thầy kéo ghế, nói:
 
- Ngồi xuống đi.
 
Học trò nghe theo, nhưng vẫn nói:
 
- Học trò xin lỗi.
 
- Không có lỗi đâu.
 
- Có. Lỗi học trò bắt thầy giảng bài tới năm lần. Bữa đó hiểu rồi, nhưng tức, giả vờ nói chưa để bắt thầy giảng. Giảng quá nên thầy mệt. Thầy phát đau. Học trò hối hận lắm. Thầy trách không?
 
- Không. Bỏ chuyện đó đi.
 
- Bỏ chi được. Hôm nay học trò "đền" thầy một buổi tới thăm, với một bịch cà phê.
 
- Trời đất. Đau mà cho uống cà phê.
 
- Để lành rồi uống. Hợp lý không?
 
- Hợp lý.
 
- Thầy hết giận học trò rồi nghe?
 
- Nghe.
 
- Chắc?
 
- Chắc.
 
Rồi học trò về. Thầy trở vô giường nằm. Như thế đó. Nhưng như thế là như thế nào? Ông thầy nghĩ ngợi điều đó rất dữ. Nghĩ, buồn. Những người đàn bà đã đi qua đời thầy, một thời, như những cơn lại nồm tàn bạo. Đi qua. Rồi hết. Không để lại một dấu tích. Không chứng cứ. Cõi miền tình yêu bỗng trở nên im sững, bất động, giẫy chết. Nhưng yêu một người đàn bà khác hơn yêu một cô bé. Quang Dũng có mấy câu thơ : Lòng trai ba mươi. Vui như trẻ lên mười. Yêu hơn tuổi mười bảy... Tuổi ba mươi thì còn lâu ông thầy mới tới. Tuổi mười bảy thì qua rồi. Ngó tới. Trông lui. Tuổi thầy lưng chừng giữa hai giới hạn đó, nhưng không hiểu sao thầy bỗng yêu ghê gớm. Lòng yêu rộn ràng như bông gạo một mai rụng rớt đầy đường. Chính là tình yêu rớt. Chính cô bé là ngọn gió nhẹ rung. Tình yêu lay. Ông thầy chới với. Cô bé nhập nhòa.
 
Cô bé tới thăm. Cô bé bỏ về. Ông thầy khỏi đau. Ông thầy tiếp tục đi dạy. Đã có những câu chuyện kể xen vào giữa giờ học. Đã có những bài thơ tình được ngâm nga. Đã cất bộ mặt lầm lỳ. Đã lộ ra bản chất tự nhiên. Đã có, thỉnh thoảng, vài lần hò hẹn. Đã có vài lần thỉnh thoảng cô bé khoanh tay đứng trước mặt thầy, nói:
 
- Thầy cho học trò đi uống cà phê đi ạ.
 
Lúc đó, ông thầy sẽ khoát tay:
 
- Bậy bạ. Học trò không được uống cà phê với thầy. Luân lý cấm.
 
Luân lý? Nói là để nói chơi. Không bao giờ ông thầy nghĩ tới luân lý đạo đức. Trái lại, ông thầy còn kiêu mạn, dẫm chân lên. Nói : Ta sống cho ta. Bất cần thị phi. Sống. Ăn. Ngủ. Đi rông. Mơ mộng. Đau khổ. Buồn bã. Vui sướng. Yêu... Ta sống cho ta. Mặc kệ thị phi. Ta sống cho ta. Không lý tới tha nhân. Khi vui, cười to một tiếng. Lúc buồn, hét tướng vài câu. Ta sống cho ta.
 
- Đi. Thầy cho học trò đi uống cà phê đi.
 
Đi. Đi. Đi đi. Ông thầy dại dột đến độ thích thú để tuân theo. Không cần cấm cản. Không cần tự chế. Mở ra để rước vào. Rước vào tiếng chim sơn ca thánh thót. Rước vào những khuôn trăng đêm rằm vằng vặc. Và rước vào mơ ước trắng hồng như bông lài bông huệ. Ơi cô bé tóc dài buông che. Ơi cô bé tay hồng lông măng sữa!
 
Và, dĩ nhiên sẽ đi uống cà phê. Đi ngồi quán. Giam kín hồn tại đó. Đi. Rồi còn đi nữa. Không cưỡng được, xếp sách vở lại. Đi. Đi uống cà phê. Đi kể chuyện những chàng thi sĩ đói rách làm thơ tình trên những ống khói. Đi nói chuyện có con bướm vàng, chiều vàng, đậu trên khóm cúc vàng.
 
- Thủng thẳng. Đi thì đi.
 
- Không phải thầy sợ à?
 
- Sợ chi?
 
- Sợ đi với học trò người ta bêu cho.
 
- Mặc kệ người ta. 
 
- Ngon dữ.
 
- Chứ sao. Mình sống cho mình. Dư luận là đất. Đất làm thành con đường. Hãy ngẩng đầu, bước lên đó mà đi.
 
Đi một bữa. Ba bữa. Chín mười bữa. Sẽ có chín mười chuyện tuyệt vời, khó quên. 
 
Nhưng, ít thì được. Nhiều quá là có chuyện. Nhiều quá, dư luận sẽ xía vô, sẽ đồn. Dư luận đồn, gia đình sẽ hay. Gia đình hay, sẽ nhân danh luân lý để cấm cản. Cấm cản bằng cách rẽ núi chia sông.
 
Một sáng đẹp trời, học trò buồn bã tới nhà thấy để báo tin : bể rồi. Có đứa chơi ác, mách với ba rằng học trò đi vô quán với thầy. Ba tức. Ba bắt học trò lên Đà Lạt học. Đi gấp. Bao giờ đi? Mai.
 
Mai? Ông thầy ngạc nhiên hỏi. Học trò gật đầu. Thế đã xếp đặt chưa? Rồi. Rồi là rồi. Xa rồi. Hết rồi. Phải không?
 
- Thôi. Mai thầy đưa học trò ra bến xe.
 
Học trò lại gật đầu, muốn khóc. 
 
Ông thầy đóng mạnh  cánh cửa màu xanh.
 
*
 
5 giờ sáng.
 
Học trò khoác áo choàng nhung tím, nón nỉ, quần "bát" xám. Thầy mặc chiếc len nâu. Hai thầy trò đang đi trên đường.
 
Học trò ôm cặp. Thầy xách giúp chiếc xắc, miệng môi phì phèo thuốc lá.
 
Trời mưa lất phất. Khối sương mù ít, loãng, vờn quanh, bị gió đẩy trôi là đã dạt về hướng ngọn đồi.
 
Quán T.N. Hai phin đen.
 
Đây là tách cà phê chót, học trò uống với thầy. Cô bé nói thế. Thầy im lặng.
 
Một lát, thầy đọc thơ René Char cho học trò nghe : ne regardez q'une fois la wague jeter. L'anere dans la mer.
 
Học trò nói học trò đi xe chứ không đi thuyền. Thầy đừng nói tới sóng và biển. Buồn. René Char kệ René Char.
 
Thầy không nói nữa.
 
Một lát.
 
- Đây là tách cà phê chót.
 
Cô bé lập lại. Thầy giả vờ cười.
 
- Học trò lên trên đó không được học thêm ai nữa nghe?
 
- Nghe.
 
- Không được cứ rủ ông thầy khác đi uống cà phê nghe?
 
- Nghe. 
 
- Nghe sao? Nói lại coi.
 
- Không được đi uống cà phê với ai. Chỉ đi với thầy này.
 
Cô bé chỉ vào ông thầy : này, này.
 
Ông thầy nói hứa đi. Cô bé gật gật, hứa.
 
Một lát. Cô bé hỏi:
 
- Dặn xong chưa?
 
- Xong.
 
- Giờ đến lượt học trò dặn.
 
- Dặn đi.
 
- Ở đây thầy không được đi dạy thêm ai nữa nghe?
 
- Nghe.
 
- Không được rủ học trò khác đi uống cà phê với thầy nghe?
 
- Nghe.
 
- Thầy đọc định đề Euclide đi.
 
- Từ một điểm ngoài một đường thẳng ta có thể vẽ một đường thẳng khác, thẳng góc với đường đã cho, và chỉ một mà thôi.
 
Cô bé nhắc theo định đề đó:
 
- Một ông thầy có thể "quen" một cô học trò, và chỉ một mà thôi.
 
Cả hai cùng cười.
 
6 giờ sáng.
 
Ngồi quán một giờ. Hai thầy trò lại ra đi ngơ ngẩn trên con đường. Trời mưa có hột.
 
Cô bé khe khẽ đọc thơ Nguyên Sa : Mai tôi đi chắc trời mưa. Tôi chắc trời mưa mau. Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội. Nhưng chậm thế nào rồi cũng phải xa nhau...
 
Ông thầy nói:
 
- Không được "tôi". Không được lạm dụng chủ từ. Phải đọc là học trò.
 
- Dạ. Học trò.
 
Bến xe. Người đàn ông ngồi ghi vé sau quầy. Khoản tiền thối lại được ông thầy nhét vào cặp da của học trò. Dãy quán bên kia đường, phía trước những nồi soups sôi ùng ục thổi lên nghi ngút từng vệt khói xám vẽ thành các vòng tròn. Hai người cùng ở trên một vòng tròn nếu bỏ công tìm nhau chắc có ngày cũng gặp. Nhưng lâu. Những chuyến xe chờ sẵn với ì ầm tiếng động cơ nổ bao giờ cũng có chia ly.
 
Cô học trò nhắc cho ông thầy lơ ngơ nhớ điều đó:
 
- Thưa thầy. Học trò sắp xa thầy.
 
Ông thầy ngó lơ về phía núi. Hai giọt nước mắt thật đẹp bịn rịn ứa ra khỏi riềm mi mắt đen, từ từ lăn xuống, đậu lại trên đôi má bầu bĩnh của cô học trò mới lớn. Ông thầy ổng ngó lơ là phải.
 
- Thưa thầy...
 
- Thầy với bà. Đi đi. Ngoan.
 
Cô học trò cúi đầu.
 
- Học trò sẽ ngoan như thầy nói.
 
- Cười đi.
 
- Thầy ác lắm. Buồn "thúi ruột" mà biểu cười.
 
- Khóc đi.
 
- Ai lại đứng giữa bến xe mà khóc. Dị lắm.
 
- Thế thì đi đi.
 
- Lên trên đó học trò viết thư về liền liền. Thầy chờ không?
 
Một phút.
 
Xe rồ máy. Cô học trò ngỡ như tim mình đập nhịp tư.
 
Số ghế 13. Cô học trò ngồi xuống. Số xui.
 
Anh lơ xe hô lớn:
 
- Đà Lạt. Chạy.
 
Xe chồm tới. Một bàn tay con gái thò ra khỏi ô cửa, vẫy vẫy. Mới thoáng nhìn một chút, xe đã vụt đến gần chân cầu. Ông thầy chợt ngơ ngác đưa mắt ngó tìm quanh bến xe nhưng chẳng thấy cô học trò đâu. Chỉ thấy lơ ngơ thiên hạ quay về. Và thấy mưa.
 
 
LÊ MIÊN TƯỜNG      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 63, tuần lễ từ 10-8 đến 17-8-1972)
 

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2024

TRÒ CHƠI BẰNG TIM - Lê Miên Tường

 

Gửi th.

Chuyện thực sự xảy ra từ những cơn mưa chiều. Cơn mưa thứ nhất. Cơn mưa thứ nhì. Tiếp theo những cơn mưa. Người nghệ sĩ lang thang chính cống thường thích cái gì bất trắc bấp bênh. Mê say những sự vật thuộc âm như sương mù, trăng, cây cỏ và mưa.

Hôm mưa buổi chiều tôi ngồi nói với Phù Vân ở bể nước. Dĩ nhiên cái tên này do tôi đặt. Cha mẹ công khó đẻ con ra ai ngu chi lại đặt cho con mình một cái tên đọc lên nghe gần với  sự chết như thế.

- Phù Vân nè.

Vừa đặt xong là tôi gọi liền.
 
- Anh nói cái chi đó?
 
Phù Vân ngơ ngác hỏi tôi, hai bàn tay vẫn nhúng sâu dưới lớp bọt xà phòng nghịch ngợm một cách rất trẻ con.
 
- Tôi kêu tên đấy.
 
- Anh kêu ai thế?
 
- Phù Vân.
 
- Phù Vân là ai?
 
- Là người.
 
- Nhưng mà người nào mới được chứ?
 
- Người nào có tên là Phù Vân. 

- Thế thì đi kiếm cô nào có tên là Phù Vân mà kêu. Ở đây không có Phù-Vân-Phù-Vúng gì cả.

- Có chứ.

- Đâu?

- Làm bộ không biết hả?

- Thèm làm bộ. Không biết thì nói không biết.

- Không biết thì thôi.

- Không biết thì hỏi chứ.

- Ở đây có mấy người nhỉ?

- Hai.

- Trong hai người, ai tên là Phù Vân đây?

- Chắc là anh?

- Thôi cô ơi. Đừng giả vờ nữa. Biết chắc rồi còn làm bộ.

- Thế Phù Vân là tên em hả?

- Chứ còn ai vô đó nữa.

- Thôi. Không thích đâu. Tên chi nghe "ngắn ngủi" quá trời.

Mưa rơi sàn sạt trên  mái tôn nghe buồn thật gần. Phù Vân mở to mắt duyên dáng bày tỏ sự ngạc nhiên cố ý. Tôi đưa tay chỉ những chiếc bong bóng nước do giòng nước từ máng xối chảy xuống tạo thành tiếp nối nhau vỡ tan trong "phuy" nước gần ngang miệng trắng đục như bọt biển.

Phù Vân trông theo. Tôi nói:

- Vân biết gì đó không?

- Nhỏ này đâu đến nỗi ngu mà hỏi.

- Thế Vân có thích không?

- Không.

- Sao thế?

- Có chi đẹp đâu mà thích.

- Đẹp lắm chứ.

- Đẹp sao?

- Nêu có nắng chiếu vào Vân sẽ thấy những chiếc bong bóng nước xanh đỏ nhiều màu đẹp như cầu vồng.

- Sao nữa?

- Nếu soi vào đó, Vân sẽ thấy mặt mình lấp lánh như thủy tinh, hoặc trong xanh như mắt mèo.

- Mèo ăn vụng hả?

- Ta nói thật mà cứ giỡn.

- Rồi sao nữa? Anh tả hết đi.

- Nếu Vân nhìn vào đây mà chải tóc thì khỏi chê.

- Anh biểu em cứ mỗi sáng rửa mặt mũi xong là "vác" lược xuống soi vào đó để chải tóc hả?

- Ừ.

- Lỡ trời không mưa thì sao?

- Lạy cho trời mưa.

- Nếu lạy mãi mà trời cứ không mưa thì anh biểu em phải làm sao? Chắc phải lấy tay thò xuống bể nước quậy quậy cho nổi bọt để soi mặt hả?

- ...

- Thôi. Đừng xúi bậy mấy bà bán gương kiện chết.

Phù Vân cười chọc. Tôi vẫn phớt tỉnh. Vẫn nói về những chiếc bong bóng nước vốn đã ám ảnh tôi từ thời thơ trẻ. Ám ảnh về cái tan vỡ mau chóng. Về sự mỏng manh. Về hư không.

Tôi hỏi:

- Vân nhận xét thế nào về những chiếc bong bóng nước?

- Nó chóng vỡ.

- Sao nữa?

- Nó có vẻ phù vân.

- Thông minh lắm.

- Anh biết thế sao còn đặt tên em là Phù Vân?

- Tên hay rồi còn đòi chi nữa/

- Bộ anh muốn em như mây khói hả?

- ...

- Đúng không?

Tôi không biết mình nên lắc đầu hay không nên. Thấy điệu bộ ấm ớ của tôi, Phù Vân nói thêm:

- Từ nay trở đi cấm không được kêu em là Phù Vân nữa nghe chưa?

- Chưa.

- Anh mà không nghe em nghỉ chơi với anh liền.

- Nghỉ đi.

- Thách phải không?

- Ừ. Thách.

- Để rồi coi. Anh mà còn kêu em như vậy nữa tức khắc em từ anh cái một. Ở đó mà thách.

- Chấp.

- Còn chấp nữa phải không? Không ngán nhỏ này phải không?

- Sức chi mà ngán.

- Liều ghê đi - Phù Vân vừa nói vừa giẫy nẩy - Anh còn nói giọng "cha nội" đó nữa em tát nước cho coi.

- Tát đi.

- Bộ không sợ lạnh hả?

- Không.

- Làm "le". Để coi thử có ngán không cho biết. 

Dứt câu, Phù Vân thò cả hai tay vô thau nước, chực tát. Tôi kêu lên:

- Ê, nếu tát nước, sẽ bị trả thù.

- Trả thù sao?

- Sẽ không cho mượn truyện.

Nghe nói truyện, Vân sáng mắt lên, vội vã rút tay ra khỏi thau nước, nói mau:

- Thôi thôi không tát nước đâu. Cho mượn truyện nghe.

- Không nghe.

- Cho mượn mau đi.

- Không đi.

- Đi. Lên lấy mau đi. Trời lạnh như ri mà "vách củ tỏi" vừa lười biếng vói tay bốc đậu phộng rang ăn vừa rề rà đọc truyện thì "hết sẩy".

- Hết sẩy?

- Chớ gì nữa. Các "ông" thì "chun" vô quán cà phê. Còn các "bà" ở nhà nằm đọc sách nghe mưa. Thế mới đúng "gu".

- "Đi" chứ ai lại "chun".

- "Chun" là tiếng tượng hình mà.

- Tượng hình?

- Nói "chun" mới diễn tả hết được độ thèm ngồi quán, thèm cà phê của các "đấng".

- Có chắc như vậy không?

- Đúng "y boong" như vậy.

- Ê, vừa nói cái chi đó?

- "Y boong".

- Là chi? Tiếng Thượng hả?

- Ngu quá. Là đúng y như vậy. Trúng phóc. Đúng "ngay chóc". Không sai vào đâu được.

- Học mấy tiếng đó ở đâu thế? Chắc giở tự điển ra coi không có đâu nhỉ?

- Làm chi có. Chỉ riêng "bọn" này biết mà thôi. Mấy ông làm tự điển có đọc được cũng lắc đầu.

- Oai ghê.

- Ê. Đừng vòng vo tam quốc nữa nghe. Bộ muốn lơ hả?

- Lơ gì?

- Thì truyện đó. Bộ lơ rồi "chùa" luôn hả?

- Không lơ. Nhưng mà phải đổi. Bữa nay không dại nữa.

- Thế lâu nay anh dại lắm hả?

- Không phải. Lâu nay là ta "chiều" đó. Luật có nói như vậy. Con trai phải chiều con gái.

- À à. Té ra là "chiều" chứ không phải "dại".

- Có "dại" vì Vân cũng cứ... vui lòng như thường.

Nghe tôi nói thế, Vân nhẹ chớp mắt. Cho dù có cố gắng che đậy bằng cách cười giỡn tôi vẫn tinh mắt đọc thấy chút xúc động tuyệt vời đó ẩn hiện bàng bạc trong đôi mắt Vân tròn to đen ướt.

- Giờ anh muốn đổi cái gì đây?

- Cái này dễ lắm. Khỏi phải mất tiền mua. Khỏi phải mất công đi kiếm đâu xa. 
 
- Cái gì thế anh?

- Nhưng mà Vân phải hứa là chịu đổi đã.

- Khó vừa vừa thì chịu. Nếu khó quá phải cho Vân khất lại vài hôm chứ.

- Dễ lắm. Vân hứa chịu đi.

- Ừ hứa. Đâu thế anh?

= Nó ở ngay trên người Vân.

Trời đất. Trên người Vân, có cái gì đáng giá để đổi cho anh đâu?

- Đáng giá lắm chứ.

- Đâu?

- Nhiều vô kể.

- Cái chi kỳ vậy hả?

- Vân đoán thử xem?

- Để coi. Mắt thì để Vân học bài với lại để thấy đường mà đi, không thể đổi được. Miệng  để ăn. Mũi để thở. Chân tay đi đứng cử động. Những thứ đó dĩ nhiên không đổi được rồi.

- Mau đi.

- Chi nôn thế. Để thủng thẳng ta nghĩ đã.

- Nghĩ mau đi.

- Giày dép cũng chẳng đổi được. Con trai đâu có thèm đi giày của con gái. Khăn tay cũng không thể đổi. Đổi khăn tay... xui lắm. Cái gì hả?

- Ra chưa?

- Anh cho Vân đổi một trái ổi nghe?
 
- Đâu được.
 
- Mười trái. Chịu không?
 
- Tôi đâu phải tham ăn như cô.
 
- Thế thì cái chi? Nói mau không ta khóc liền cho coi.

- Khi không làm ầm lên chi vậy. Nghe nói phải im lặng.

- Im lặng rồi. Nói đi "cha".

- "Cha" nào?

- Thì "cha" nào nữa. Anh đó.

- Ủa, lên chức hồi nào mau vậy?

- Không phải "cha con" đâu mà chức với tước. "Cha" đây là "cha" đặc biệt. Ai... thân thiết lắm ta mới kêu bằng "cha" chứ bộ.

- Thôi thôi. Cô cho tôi xin. Cô làm ơn kêu bằng thằng hoặc chú bác ông gì cũng được. Nhưng đừng kêu bằng "cha". Nghe tội lắm.

- Kêu bằng "ông" nghe?

- Cũng được.

- Thêm một chữ "anh" nữa là thành "ông anh" nghe?

- Cũng được.

- Ông anh nói đi. Ông anh muốn đổi cái chi?

- Muốn đổi một sợi tóc của Vân.

Ở chỗ này, tôi nói mau vì sợ nói không được. Phù Vân, lúc nghe tôi nói xong, như con mèo, vụt một cái, Vân chạy lẹ vào nhà và để lại tặng tôi câu nói nửa vui nửa thẹn:

- Không được đâu. Không được đâu. Anh khôn thấy mồ.

Tuy "không được đâu" và "anh khôn thấy mồ", nhưng sau đó vài ngày, lúc đưa truyện cho Vân, tôi nhận được một tờ giấy pelure xanh xếp tư gói sợi tóc và mấy giòng chữ viết bằng mực tím: Vân soi mặt trong mấy bong bóng nước cố lựa tìm một sợi tóc dài nhất. Tuy đau ghê gớm nhưng Vẫn cũng không ngán chi hết, vẫn "nhổ" cho anh. Tóc-của-Vân-là-Vân-đó. Một cây-triết-lý đây.

Tôi giữ sợi tóc. Và từ đó trong cung cách đối đãi, tôi rất đặc biệt với Phù Vân. Ngày nào cũng phải nhìn cây-triết-lý. Ngày nào cũng phải nghe cây triết lý hét hò ca hát tùm lum. Một lần khác, ở bể nước cũ, Phù Vân lại nói với tôi về sợi tóc.

- Ê, cho đi thì phải cho lại chứ.

- Không được nói là "cho". Phải nói là "tặng". Cung tặng đàng hoàng.

- Tặng cũng được.

- Vân muốn tôi tặng cái chi?

- Mình nhận của "thiên hạ" cái chi thì tặng lại cho "thiên hạ" cái đó.

- Một sợi tóc?

- Chứ gì nữa.

- Trời đất, con trai ai lại tặng tóc bao giờ.

- Mặc kệ. Ta thích thế.

- Muốn mấy sợi đây? Trăm sợi nhé?

- Một thôi.

- Muốn khi nào lấy?

- Ngay bây giờ. Kẻo nguội.

- Thôi. Cho khất đi.

- Khất đến bao lâu?

- Hồi nào ra tiệm hớt tóc tôi sẽ kêu Vân theo.

- Chi vậy?

- Theo hốt tóc về chứ gì nữa.

Dĩ nhiên là Vân phải cười. Tôi cũng cười. Chúng tôi có tài đùa. Một chuyện quan trọng nhất, cũng đùa được. Cứ cười một tiếng là hết cả mọi bi thảm, buồn rầu, nghiêm trang, hệ trọng. Tôi thường nói với Phù Vân: cứ cười một ngày đúng ba lượt, trong một năm sống, ta trẻ lại được gần bốn tháng.

Phù Vân cũng thích thế bởi tính Vân rất trẻ con. Một lần khác, đi chơi về, vừa bước lên cầu thang tôi đã nghe ở phòng Vân vang ra những tiếng một hai một hai bên phải quay bên trái quay, trước bước nghiêm chào nghiêm chào, tôi vội ngừng lại. Chuyện gì đây? Vân đang làm chi trong phòng? Mấy hôm trước Vân bị ốm vì dịch cúm nằm liệt giường liệt chiếu sao giờ này nói chi ồn ào?

Tôi kêu một đứa em của Vân ra hỏi. Nó nói:

- Chị Vân đang tập "quân sự".

- Cái gì?

- Tuần nay chị Vân không học chữ.

- Sao thế?

Mấy lớp đệ nhị cấp của trường thành lập xong Liên đoàn phòng vệ hậu phương nên chị học quân sự.

- Rồi sao?

- Học đã được ba ngày. Chị Vân đau nên không đi được. Ba có làm đơn xin phép.

- Sao nữa?

- Nghỉ mới ba hôm, chịu không được, hồi sáng chị Vân nèo nẹo đòi ba chở đến tận nơi bạn bè chị đang học cho được.

- Chị Vân cũng học "quân sự"?

- Dạ. Bây giờ chị đang "dợt" lại ở trong phòng.

- "Dợt" lại hả?

- Dạ. Chị nói vài bữa nữa đi diễn hành một hai một hai.

- Kêu chị Vân ra đây.

- Dạ.

Đứa bé quay đi. Phù Vân ló mặt ra ở khung cửa với mồ hôi chảy bết tóc trên trán. Với khuôn mặt tái xanh.

- Ê. Hỏi gì thế?

- Muốn mau-về-chầu-tiên-tổ hả?

- Cái gì?

- Muốn một hai một hai thì đợi khỏi bệnh đâm đơn vô lính mà một hai trước bước sau quay.

- Kệ người ta.

- Vô nghỉ đi và chiều không được một hai một hai nữa.

- Ghê chưa.

- Mau. Không có cãi.

Tôi hét lên thực sự giận dữ. Phù Vân biết tôi đã quyết liệt quá nên chực khóc. Và sau khi trở vô phòng Vân nói lí nhí:

- Làm tàng. Ta tập "quân sự" mà cũng cấm.

Tôi bật cười vì tính trẻ con của Vân. Nghe tôi cười, Vân lẩm bẩm thêm:

- La người ta rồi còn cười nữa chớ. Để coi.

Tôi bỏ về phòng.

Những ngày sau đó, khi đã khỏi bệnh, Phù Vân quyết lẩn tránh tôi bất kỳ ở đâu. Ở trường học. Ngoài đường. Trong tiệm sách. Trước mặt nhà thờ...

Tôi chắc là bởi lý do hôm tôi cự với Phù Vân ở phòng. Ngoài lần đó ra, tôi thấy chẳng có lần nào khác nói lớn tiếng với Vân cả. Tuy thế, tôi vẫn cảm thấy sao sao bởi những lần tránh tôi, đôi mắt Vân buồn quá. Buồn đến độ tôi đâm ra lo sợ vớ vẩn mà chẳng dám diễn tả sự lo sợ bằng một biến cố không may. Tôi nhất quyết phải hỏi Phù Vân cho ra lẽ.

Cho tới một hôm, buổi chiều, mưa, tôi xách ấm xuống lấy nước để nấu pha cà phê, tôi gặp ba Vân đang hì hục phá đục những lớp xi măng cũ. Tôi hỏi:

- Bác làm chi thế bác?

Trả lời:

- Tôi đúc lại ảng nước.

- Để chi thế bác?

- Để coi cho tử tế một chút. Lại nữa, để hôm nào khách bên nhà trai đến "ăn hỏi" cháu nhỏ ở nhà, trông vào họ khỏi chê.

- Ăn hỏi ai thế bác?

- Thì cháu Vân đó.

- ...

- Bữa nào mời cậu uống chút rượu nghe.

Những chiếc bong bóng do đường nước từ máng xối chảy xuống tạo thành đang vỡ tan dần trong phuy nước tràn đầy. Nước tràn chảy xuống cùng rác rến sâu bọ tập trung đầu khe mương đang dần dà trôi ra ống cống cái ngoài đường đầy ngập.

Có những trò chơi bằng tim óc máu huyết lúc đem vào cuộc người không mặc cả đắn đo. Tình yêu khác với sòng bài. Như trời mưa. Mưa cao nguyên buồn bã. Có bao nhiêu lần trời đã mưa? Có bao nhiêu chiếc bong bóng đã vỡ? Có bao nhiêu đứa con gái đã bỏ cuộc chơi dương thế theo chồng? Có bao nhiêu sợi tóc đã trao? Có bao nhiêu mộng đã chìm?

Những câu hỏi lơ ngơ lớ ngớ. Và bởi không muốn lớ ngớ lơ ngơ cho nên tôi không có lời đáp. Chỉ có một lời đáp duy nhất thì Phù Vân đã chẳng muốn nghe.

Tôi đã cho Vân những gì? Vân đã cho tôi những gì? Không là gì cả của nghĩa nhận và cho.

Bởi vì, cuối cuộc, trò chơi đã chấm dứt, Phù Vân đã ở một đời riêng định phận.


LÊ MIÊN TƯỜNG    
(Blao, 27.10.1972)     

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 83, tuần lễ từ 28-12-1972 đến 4-1-1973)