Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

ĐÈN CẦN GIỜ - Bình Nguyên Lộc

Tặng Huỳnh Bửu Ngà

Hôm nay Sơn buồn lắm. Trên đèn có tất cả sáu người giúp việc mà hết năm đã vào bờ rồi. Anh chàng yêu hụt, nghe cô đơn từ mấy tháng nay, và bây giờ thì thấy mình thật cô độc một trăm phần trăm, giữa cảnh trời nước bao la nầy.

Đèn Cần Giờ cất trên một cồn cát ngầm, gần giữa sông, trệch vào hữu ngạn một chút, Nhà đèn hình bát giác, rộng bằng hai căn nhà phố, nằm chinh chông trên những cẳng sắt mảnh mai, xa trông giống như một lồng bồ câu. Trên nóc nhà là ngọn đèn sông, nhỏ hơn hải đăng nhiều, nhưng cùng một công dụng với đèn rọi biển. Sáu người giúp việc trên đó có phận sự lau đèn, vô dầu và canh gác về đêm sao cho đèn cháy đều mãi mãi để giúp tàu bè qua lại khỏi rướn lên cồn cát.

Hôm nay ông xếp đèn có việc nhà cần kíp nên phải vào bờ, một người đi chợ, một người đi nhà thương, hai người nữa lại phải chèo ghe đưa tất cả những người đó. Thành ra Sơn phải ở lại có một mình. Theo phép thì họ không được vắng mặt cả đám như vậy, nhưng đây là trường hợp đặc biệt, và cũng đang ban ngày, không có công việc gì. Miễn là chiều tối họ về thì thôi.

Sáng sớm, mặt trời đổ bạc xuống nước, chim bay cũng nhiều, ghe thuyền qua lại cũng bộn, thế mà Sơn thấy cảnh hiu quạnh lạ kỳ.

Người con trai nầy đã yêu mà không được yêu lại nên chàng thất tình, nhìn thấy cái gì cũng đen, cũng xám cả. Lúc mới bị hất hủi, chàng định tự tử, nhưng không dám. Chàng lại định đi tu, nhưng ngại phải ăn chay. Rốt cuộc chàng xin một chân phu lau đèn ở đây. Nguyên một người cậu bà con xa của chàng làm xếp đèn từ lâu rồi, từ thời Pháp thuộc lận. Chàng bỗng nhớ sực lại người đó trong một hôm bí lối, và nghĩ cây đèn Cần Giờ có thể là nơi ẩn náu tốt để mà quên. Lương bổng, chàng không cần vì chàng là con nhà khá giả, sắp vào thơ ký ngạch nhà nước kia mà.

Bên tả ngạn, từ trong bờ một hàng cột đáy chạy dài tới cửa sông, rung rinh dưới sức xô đẩy của sóng mạnh, ghe thuyền qua một cái lạch tương đối hẹp giữa nhà đèn và cây trụ đáy bìa, để mà qua lại. Thành ra người trên ghe nói gì, Sơn nghe rõ mồn một.

Họ nói thì ít mà hát điệu chèo ghe thì nhiều. Hát rằng:

Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung,
Anh thương em tha thiết vô cùng.
Biết ba với má có bằng lòng hay chăng ?


Nghe hát, Sơn cứ muốn mình được như anh trai trong câu hát đó. Nếu chỉ có ba với má là chướng ngại vật thôi thì chàng đỡ khổ biết bao ! Bất quá là hái đứa cùng trốn đi một lúc, rồi trở về xin tha thứ. Đằng nầy trong trường hợp của chàng, chính nàng lại không bằng lòng, thế mới chết cho.

Lại hát rằng:

Đèn Cần Giờ đêm đêm sáng tỏ,
Ghe lớn ghe nhỏ nhìn thấy rõ mà vào,
Biết ai lòng dạ thanh cao
Để cho phận gái má đào gởi thân ?


Eo ơi, Sơn than thầm, con gái băn khoăn như vậy là chánh đáng. Nhưng lòng chàng không bừng sáng được mỗi đêm như cây đèn Cần Giờ để cho con gái nó thấy thanh cao mà chọn, nên chi Lệ nó đã chọn người khác cho chàng phải đau.

Chàng yêu Lệ và cũng được Lệ có cảm tình trở lại. Nhưng Nam, một người con trai khác, có bề ngoài hào hiệp hơn, lại đến và xáo trộn cả dự tính sắp thành công của chàng.

Lệ do dự rất lâu giữa hai người và rốt cuộc đính hôn với Nam.

Trốn trong sự bạo lực, Sơn nguôi được đôi phần rầu. Nhưng cảnh ở đây lại gợi tình, thành ra vết thương cứ "làm miệng" trở lại mãi. Nhứt là trong vòng tuần nầy, là tuần nghỉ hè Phục Sinh. Tàu đò chở người đi nghỉ mát qua lại dập dìu, nhắc nhở Sơn chốn cũ là nơi mà mối tình đầu của chàng đâm mộng, khiến Sơn nhớ Sàigòn vô chừng, nhớ người Sàigòn như là nhớ một điếu thuốc về đêm. Bị bỏ tù giữa sông lớn, chàng thường phải thèm thuốc, những ngày ghe của nhà đèn không đi chợ. Hai nỗi nhớ nầy sao mà minh mông và sâu thẳm như khúc sông Cần Giờ từ ngoài cửa vào tới đây !

Mỗi khi một chiếc tàu đò chạy qua, trên ấy lố nhố người ta, Sơn nhìn trân trối đám hành khách với ảo vọng tìm ra con người chàng giận nhưng chưa quên được. Áo xanh, áo trắng, áo tím, áo hường, tất cả những màu áo ấy lũ lượt đi qua, nhưng Sơn không hề thấy dáng Lệ lần nào cả.

"Chắc chồng cưới người ta rồi, và người ta đang hưởng tần trăng mật ở đâu đó". Sơn lẩm bẩm như vậy mỗi lần thất vọng.

Bạn ghe đã thôi hát. Ghe nào cũng vội vàng chèo mau để qua khỏi lạc hẹp, hầu tránh tàu, vì sóng lớn do chân vịt quậy lên sẽ xô đẩy ghe họ tròng trành khó chịu lắm. Ừ, đằng xa, hướng ngoài cửa, còi tàu hú vang rền.

Tàu đi, nên thơ lắm vì nó gợi hình ảnh những cuộc viễn du kỳ thú. Còn tàu về thì như là một cuộc đời sắp tàn. Nên chỉ riêng Sơn, chàng không bồn chồn lắm, mà chỉ vui ngắm cảnh rộn rịp tránh tàu.

Nhưng cái bận rộn của bạn ghe thật vô ích. Đó chỉ là một chiếc tàu đò nhỏ, chiếc Hát Giang, chở hành khách nghỉ mát trở về Sàigòn.

Hôm nay, ngày cuối cùng của hạn nghỉ Phục Sinh, nên tàu chở khẩm lừ. Tàu đen đúa lại tróc sơn xem rất xấu xí, nhưng hành khách vẫn nhiều màu rực rỡ trông rất đẹp và người ta có ấn tượng nhìn một hộp thiếc cũ đựng một mớ bướm mà cánh nhuốm đủ cả các màu.

Chiếc Hát Giang chạy sát hàng đáy quá, không hiểu vì sao. Người tài công quên rằng có hàng cột đáy ở đó chăng? Không rõ. Nhưng khi tàu qua lạch thì suýt rướn lên cây cột đáy ngoài bìa.

Đi sai đường như vậy, không hại ai cả, hay nói cho đúng, chỉ hại chủ đáy chút ít thôi: một trụ đáy sẽ ngã, lôi theo vài trục kế cận, thế là thôi.

Nhưng người tài công lại quýnh lên, lái mạnh để xuyên tạc đường tàu một cách đột ngột hết sức. Chiếc tàu bỗng day mũi mau lẹ rồi nghiêng triềng. Hành khách trên tàu, gồm rất đông đờn bà và con trẻ đâm hoảng, chạy đổ dồn qua bên be cao, một là họ sợ rơi xuống nước, hai là họ hy vọng làm thế để lật cho tàu được thăng bằng trở lại. Vì vậy tàu thình lình lại nghiêng về phía hành khách mới đổ dồn qua. Lần nầy nó nghiêng quá 45 độ, vì sức chạy của hành khách tăng thêm sức nặng của họ. Họ vẫn hoảng nhưng không kịp chạy trở lộn về nữa vì tàu đã kể như lật rồi. Vả sân tàu bây giừ gần đứng sững, còn chạy đi đâu được nữa.

Người nào bám níu kịp vào cột, vào lan can thì còn miễn cưỡng ở lại được trên tàu, còn thì rơi xuống nước cả.

Tiếng kêu la inh ỏi của đàn bà, tiếng khóc của trẻ con, cộng với tiếng kêu gọi nhau trên các ghe kế cận làm vang dậy một khúc sông.

Nhìn những chiếc ghe vội vàng trở mũi về chỗ tàu lật để cứu vớt nạn nhân, Sơn cũng toan góp phần vào việc cứu cấp nầy. Nhưng chàng bỗng nhớ sực lại là ghe của nhà đèn đã đi chợ nên chàng cụt hứng.

Tàu lật thì mau chóng mà chìm thì chậm lắm. Sơn bất lực, đứng ngắm mặt nước nuốt lần khối sắt tầm phổng ấy, chơn bứt rứt khó chịu cỡ muốn chạy bay đến nơi ấy.

Khi hông tàu là là mặt nước, con tàu bỗng như do dự giây lát, rồi như đánh liều nhắm mắt, nó chìm mau xuống đáy sông.

Nước chỗ ấy hủng một lỗ to, và sức nặng của con tàu hút nước chung quanh, khiến ghe thuyền đang chèo về, bị thu mau lẹ lại nơi đó.

Sau khi lỗ hủng được lấp bằng như có ai vùi nông xác tàu lại, thì nhiều chấm đen bỗng nổi trở lên mặt nước. Đó là những chiếc thùng, những xe hơi, những đầu kẻ biết lội và cả đầu những kẻ tuy không biết lội mà may mắn bám được vào những vật nổi.

Ghe thuyền trên sông đã sốt sắng làm tròn phận sự. Nhưng số ghe thì ít, mà người chết đuối lại đông quá, nếu họ vớt kịp cũng không chắc đủ chỗ chứa. Mà nào có kịp đâu! Vớt một người biết lội, mất đến mười phút ! Trong khi đó những người không biết lội đủ ngày giờ sút tay chìm lỉm, hay bị sóng lớn đẩy đi xa và sợ quá hóa dại, buông thùng.

Cuộc cứu cấp kéo dài lâu quá. Có người tự lực lội vào bờ, nhưng sông quá rộng, mà họ là dân thiếu tập luyện nên đuối sức giữa đường. Có người ôm cột đáy mãi, la hét om sòm mà không ai vớt cho.

Sơn nóng ruột quá và rất mừng mà nhớ thình lình rằng mình có một chiếc di-lê nổi.

Lúc định ra đây, chàng nghĩ tới sông lớn mà phát sợ lên, nên đã mua chiếc áo hộ thân đó. Lâu rồi, không có dịp dùng tới nên quên phứt nó đi.

Sơn lật đật mở rương lấy áo tròng vào mình rồi bỏ quần ngoài chỉ giữ quần đùi thôi, chàng đứng trên nhà đèn, chấp tay lại trên đầu rồi nhắm mặt nước mà phóng xuống.

Lúc đó nước ròng, thành ra cẳng nhà sàn cao nghệu như nhón lên để mà nhìn cảnh chìm tàu. Sơn lông rông một cái và giây lâu nổi lên cách nhà sàn tám thước. Chàng lội giỏi lại có áo nổi nên lượn trên mặt sông như rái.

Chẳng bao lâu, chàng đã đến nơi tai nạn xảy ra. Vừa tới là Sơn được chứng kiến cảnh tượng lạ kỳ: hai nạn nhơn đang giành nhau một cái thùng, vì thùng nhỏ, hai người đeo nó muốn chìm nên ai cũng cố chiếm cho được thùng ấy cho mình.

Một nạn nhơn, tóc rủ phủ mặt, xem ra là đờn bà. Người nầy không chắc kém sức hơn nạn nhơn đờn ông kia, nhưng lại buông cái thùng, như chán nản lắm.

Người ấy còn đủ sức lội, vừa lội thong thả, vừa đưa một bàn tay lên vén tóc và vuốt mặt.

Sơn kêu lên một tiếng kinh ngạc: "Lệ!"

Rồi chàng bươn bả lội riết lại người con gái mà trong giây phút nầy chàng quên mất rằng ả ta đã bỏ rơi chàng.

Lệ cũng nhận ra Sơn. Nhưng nàng bình thản nói lớn:

- Anh cứu giùm anh Nam, ảnh không biết lội.

Sơn nhìn theo hướng ngón tay của Lệ chỉ thì mới hay anh chàng giành thùng là Nam.

Vì không biết lội, nên mặc dầu được thùng, Nam vẫn trầm luân. Hai cánh tay chới với, hắn níu lấy cái thùng nhỏ, đầu trồi lên hụp xuống không ngớt.

Trong vài giây, trí Sơn bị nhiều ý nghĩ làm bận rộn. Chàng bỏ mặc cho chúng chèo kéo nhau trong đó, bơi riết đến Lệ.

Tới nơi, chàng đưa một cánh tay, rồi nói xẵng:

- Níu lấy, tôi đưa vô!

Lệ không kịp nói gì đành phải níu tay Sơn.

Sơn lội một tay, đưa người bạn cũ vài phút là tới nhà sàn. Chàng nói:

- Cô ôm chưn sắt nầy mà leo lên. Nếu không được, đợi tôi trở lại.

Rồi không thèm ngó Lệ, chàng lại trở ra ngoài khơi. Biết tâm lý hoảng sợ và hay níu bậy của những người không biết lội. Sơn lại gần phía Nam sau lưng, rồi thình lình choàng tay qua ôm trái người sắp chết đuối. Lưng Nam cạ vào hông của Sơn, mặt hắn đưa ra ngoài, thành thử hắn sợ bao nhiêu, cũng chẳng níu được.

Sơn như lôi xểnh hắn vào nhà đèn, và khi tới nơi, chàng nói: "Ôm cột mà leo lên".

Bấy giờ, Lệ đã trên nảnh hường. Và bấy giờ hết sợ, nàng mới biết mắc cỡ vì áo quần dính sát vào da nàng.

Lệ ngồi co ro bó gối nhìn Sơn leo lên, và nhìn Nam lót tót bò lên theo.

Sơn nói:

- Nhà chỉ có một buồng, buồng của cậu mợ tôi làm trưởng đăng ở đây. Cô cứ vào đó, có quần áo tôi trong ấy. Nếu cô không ngại, cô thay đỡ kẻo cảm lạnh, bằng ngại thì cô vắt y phục cô cho thật ráo mà mặc lại.

Nói xong, và không thèm đếm xỉa đến Nam, Sơn lại lông rông đi nữa.

Tàu chìm hồi chín giờ sáng mà mãi đến gần mười một giờ trưa mới vớt hết nạn nhơn.

Chỉ có sáu chiếc ghe, trên mỗi chiếc có hai người bạn chèo. Một người giữ chèo một người vớt, nên họ hì hục lâu lắm.

Sơn phụ với họ và đưa người lên ghe họ thôi chớ không dám rủ khách về thêm nơi nhà giữa sông của chàng, vì gạo trên đó chỉ có hạn. Và lên đó rồi, còn phải đưa họ vào bờ nữa, lôi thôi lắm.

Khi chàng về đến nơi thì thấy Lệ đã nấu cơm xong. Nàng cười nói:

- Em vô phép làm như là nhà của em. Mà nếu em không nấu, chắc anh cũng phải nấu. Em lại vô phép nấu cho ba người ăn.

- Cô làm rất phải, cũng không vô phép gì hết. Cô giúp giùm tôi bữa nấu nầy, tôi cám ơn.

Lệ xụ mặt xuống mà rằng:

- Em chắc anh không mỉa mai, nhưng tiếng cám ơn của anh lịch sự quá, em nghe sao mà lạnh lẽo...

- Tôi quen miệng rồi...

Sơn nhìn lại thì thấy Nam mặt sượng ngắt: dễ thường hai người không trao đổi nhau lời nào lúc chàng vắng mặt.

Nhưng chàng không nghe lòng mình ghét Nam. Nhờ Nam giành thùng, nhờ nam không biết lội cho nên chàng mới cứu tình địch của chàng, chàng mới có thể tỏ ra mình thanh cao. Sơn bằng lòng mình lắm nên không ghét Nam được.

Lệ hỏi:

- Anh ở đây có một mình, lâu lâu có tàu ra tiếp tế gạo phải không? Buồn không anh?

- Không, ở đây đến sáu người. Họ có việc đi vô bờ hết, tối họ lại ra. Vài ngày thì chúng tôi đi chợ lấy một bữa. Chúng tôi có ghe riêng, của sở hàng hải phát cho.

- Mấy anh nấu nướng lấy mà ăn hả?

- Cậu tôi có vợ. Mợ tôi lo cơm nước giùm.

Gió sông lồng lộng thổi, đánh đưa những cánh cửa sổ kêu ken két và đằn ngọn lửa nấu cơn nằm dài xuống.

Họ đang ngồi giữa buồng chung to lớn và trống trơn. Đây vài thùng dầu, kia một đống dây đỏi. Bếp là 2 chiếc cà ràng nơi một xó nhà.

Sơn giở nắp một cái khạp nhỏ, lấy ra một con khô rồi nói:

- Nhà chỉ có cá khô để đãi quý khách, xin... cô tạm dùng đỡ.

Chàng do dự hơi lâu trước tiếng cô, ý muốn nói đến cả hai người khách, mà không biết phải kêu người kia bằng gì. Vả Sơn cũng hơi hờn hắn, muốn bỏ hắn ra rìa, không nói tới cho đáng kiếp, nên do dự rồi rốt cuộc chỉ trao đổi với Lệ mà thôi.

- Cả đời phải kham khổ một ngày có sao đâu. Em ngại cho anh kia chớ. Nhưng tại sao anh lại ở đây?

Sơn không đáp, ngồi bó gối trên sạp gỗ nhẵn và lên nước vì mấy mươi năm được người chà lết trên đó. Mặt chàng tuy buồn hiu mà nói lên rất nhiều về nỗi đau thầm của chàng.

Chắc Lệ đã hiểu nên không hỏi gì thêm. Nàng lui cui ghế cơm, đoạn nướng khô.

Sơn thì đi lấy chén đũa đặt lên chiếc đệm vừa được trải ra giữa nhà. Chàng nhìn cả hai người khách rồi hỏi, để đánh tan nỗi khó chịu:

- Cô đã thành hôn với... anh bạn đây chưa?

- Vẫn còn là vị hôn thê, vị hôn phu với nhau. Nhưng sao anh lại kêu em bằng cô? Cứ kêu như xưa xem có phải thân hơn không!

- Vâng, thưa chị, nếu chị cho phép như vậy. Thôi mời anh chị dùng cơm.

Ai cũng đói, nên không ai để mời hai lần. Trong bữa ăn, đã mấy lần Nam toan mở miệng nói, nhưng lại thôi. Anh chàng ấy vốn lắm lời, và cũng cần phải nói cái gì để đỡ trơ, nhưng anh ta lại xẻn lẻn quá, khó mà ra khỏi sự im lặng được. Thái độ anh lúc chìm tàu, anh ý thức rõ rệt là nó hèn, và không thể tha thứ được vì lẽ gì hết.

Lệ hỏi cho có chuyện:

- Nước uống anh lấy ở đâu?

- Lẽ cố nhiên là từ trên bờ đem ra, mỗi lần đi chợ về. Vì nặng nên chỉ đem được một khạp đường thẻ nầy thôi.

Vừa nói, Sơn vừa chỉ khạp nơi góc nhà, rồi tiếp:

- Nước ngọt ở đây quý lắm, hệt như trên một con thuyền ngoài khơi. Mặc dầu chúng tôi có ghe sẵn, không lẽ đi lấy nước ngày mấy mươi bận được.

- Nếu cả nhân viên ở đây đều có vợ con thì sao?

- Chưa xảy ra chuyện ấy bao giờ. Trừ người trưởng đăng, còn thì ai cũng trẻ tuổi cả, và vì thấy bất tiện nên họ không cưới vợ.

Không dám hỏi về chuyện âm tình riêng của bạn, sợ gợi buồn cho Sơn. Lệ cụt hứng. Thành ra bữa ăn buồn như là Sơn ở một mình.

Gần cuối bữa, Nam mới mở miệng được và hỏi:

- Rồi làm sao chúng tôi về?

- Đưa anh chị vào đây, tôi quên nghĩ đến chuyện về. Vả lại, nếu để họ đưa vào bờ, anh chị cũng đến khổ vì bơ vơ trong làng mạc, xa đường giao thông. Nhưng cũng dễ thôi. Ngày mai, tôi đón ghe cửa. Cậy họ chở anh chị trở ra Bến Đình hoặc Rạch Dứa. Ở đó rồi đi đâu cũng được.

Ăn cơm xong, Nam kêu mệt, xin một chiếc chiếu rồi lăn ra mà ngủ.

Anh chàng ngủ dễ dàng quá, mới đặt lưng xuống chừng mươi phút là ngáy pho pho, tiếng ngáy muốn át cả tiếng gió gào và tiếng sóng đánh vào chân sắt nhà sàn.

Sơn hạ gàu xuống sông kéo nước lên để rửa chén. Nhưng anh khỏi phải nhọc vì công việc sau, Lệ đã giành lấy mà làm! Sơn không cản.

Bấy giờ chàng mới để ý thấy Lệ không thay đổi y phục. Quần áo nàng nhàu nát cả và lấm dơ hết. Nhờ gió nhiều, mau khô, nên Sơn mới không nhớ đến vụ nàng ướt.

- Chị coi chừng, nếu ngày mai chị bắt đầu nhảy mũi là trúng cảm rồi đó.

- Thật ra em không lạnh... bên ngoài. Mà bên trong lòng cũng chỉ mới vừa lạnh đây. Anh... anh lạnh đã từ bao lâu còn không sao kia mà...

Lệ nghẹn ngào, nói đứt khúc từng đoạn. Sơn lơ đi và cứ tiếp tục kéo nước, mặc dầu nước rửa chén đã dư dùng. Kéo lên, rồi đổ xuống rửa mấy tấm sạp quanh đó mãi. Có lẽ chàng giấu xúc động của mình, hơn nữa dấu ngấn lệ nó không đẹp gì nơi con mắt của con trai.

Lệ sắp chén đũa rửa xong vào sóng, rồi hỏi lại câu hỏi ban sớm:

- Nhưng tại sao anh lại ở đây?

- Chắc chị cũng đoán biết rồi, còn hỏi làm chi.

- Em ngỡ anh can đảm hơn...

- Chị ít tình cảm lắm, mới ngỡ như vậy.

- Sao anh biết em ít tình cảm?

- Việc chọn lựa của chị có vẻ lý trí quá, y như thái độ của một người đàn ông có cá tính mạnh mẽ.

- Em lấy chồng, em chọn chồng, chớ có chọn nhơn tình đâu mà phải theo tình cảm.

- Ấy thế. Chị dám lấy chồng theo lý trí thì là ít tình cảm rồi đó.

Sơn nói câu nầy không phải nói lẫy. Chàng tin như thế, mặc dầu vừa thấy Lệ xúc cảm mạnh khi nãy. Chàng nghĩ rằng xúc cảm ấy chẳng qua là xúc cảm vì hối hận thôi, chớ không vì thương một người bạn không may mắn.

Lệ thở dài, làm thinh giây lâu rồi tự phê bình: và vì vậy mặc nhiên nhận Sơn nói đúng.

- Nghĩ ra theo lý trí cũng chưa chắc gặp đường tốt nẻo ngay anh à. Em chán nản đến muốn chết đi được.

- Vậy à? Từ bao lâu rồi?

- Chỉ mới từ khi sáng đến giờ.

Sơn nghe Lệ bảo chán nản thì hy vọng lắm. Nhưng ba tiếng "từ khi sáng" lại làm cho chàng khó chịu vô cùng.

"Thì ra nàng chỉ mới chán đây thôi. Còn thì mấy tháng nay nàng vẫn yêu vị hôn phu như thường và chắc không bao giờ nàng nhớ đến mình!" Ý nghĩ thầm đó xui chàng ghen tức lên. Chàng yêu Lệ quá nên ngỡ mình có quyền ghen tức ngay một phút sau khi Lệ chán người khác.

Lệ tiếp:

- Vụ giành thùng giữa sông làm em xấu hổ với anh quá. Lòng tự ái của em bây giờ nó không còn dám ló mặt ra mà nhìn ai nữa, nhứt là nhìn anh. Có một vị hôn phu hèn đến thế thì mình cũng đến bị nó lôi theo xuống bùn.

Nhưng nếu nó chỉ hèn vì tham tiền, vì sợ quyền thế thì cũng tạm quên được đi, và tạm che mặt lại mà sống. Đằng nầy nó lại có thái độ như trẻ con, tối ngủ giành hết mền một mình thì còn lòng nào mà thương yêu được.

Sơn thích lắm, nhưng vẫn làm bộ binh vực cho dịu bớt bực tức của Lệ. Chàng có ẩn ý làm cho Lệ phục chàng thêm trước thái độ thanh cao của chàng:

- Bản năng tự tồn mà... Trong trường hợp đó, ai cũng thế cả.

- Anh nói mới vô lý chớ. Em đã thấy nhiều cuộc hy sinh khiến em khiếp phục và nhớ mãi, mà kẻ hy sinh lại là những người kém Nam về học thức, về tiền của nhiều lắm. Em chắc anh cũng đã thấy như vậy ít lắm là một lần.

Sơn thở dài cho hợp với không khí nầy, trong khi Lệ phát lên cười dài:

- Cũng may cho em lắm. Nếu không có cuộc thử lửa nầy thì làm sao em biết...

- Thử nước chớ, Sơn sửa lời của bạn để đùa chơi.

- Ừ thì thử nước. Thì làm sao em biết được thâm tính của Nam!

Sơn rất muốn hỏi Lệ xem bây giờ nàng tính sao, một khi chân tướng của Nam đã bị lộ tẩy. Nhưng chàng tìm mãi mà không ra một lối hỏi cho có vẻ không mong mỏi gì hết trong vụ đó.

Rốt cuộc, chàng tạm dùng phương pháp do đường sau đây, không được khéo lắm, không được kín đáo lắm:

- Nhưng sao anh chị chậm làm đám cưới dữ vậy. Anh gác đèn như tôi sẽ được mời uống rượu hay không?

Kể cả khi sửa lời hồi nãy, Sơn nói đùa lần nầy là hai lần. Nhưng Lệ không vui đáp lễ bận nào cả.

Nàng làm thinh ngó mông lên vuông trời xanh lơ ở ngoài cửa sổ. Một bầy quạ như viết chữ nhỏ đậm đen lên tờ giấy xanh ấy. Trong giây phút cả đôi bạn đều có ấn tượng như mình đang ngồi trong khoang thuyền và thuyền đang bình bồng giữa biển khơi.

Họ làm thinh như vậy lâu lắm rồi Lệ mới nói:

- Như ai thì sau vụ giành thùng nầy là đoạn tuyệt rồi. Trắng đen đã rõ, có gì phải do dự lâu. Nhưng em lại quyết định giữ nguyên tình trạng cũ. Xấu hổ với mình lắm rồi, nên cũng không buồn chọn lựa nữa làm chi. Vả lại biết ai "lòng dạ thanh cao" bây giờ. Em ngỡ đã chọn kỹ, lại trúng nhằm một cậu giành thùng thì còn biết sao nữa. Thôi thì phận gái mười hai bến nước, rủi mắc phải bến đục cũng đành cam anh ơi!

Thoáng thấy vẻ phản đối trên mặt Sơn, Lệ nói:

- Nhắm mắt đưa chơn như vậy cũng bậy lắm, em đồng ý với sự phản đối ngầm của anh. Nhưng xin anh biết cho rằng em chán nản lắm rồi... Anh ấy à? Phải, nếu cần chọn một người khác, em sẽ không phải bận tâm trí lâu. Người đó là anh, hẳn rồi. Nhưng em còn mặt mũi nào mà yêu anh cho khỏi xấu hổ với chính lòng em.

- Ai cũng có lúc lỡ lầm, có gì mà xấu hổ.

- Em biết anh thương em nhiều và vẫn còn thương như trước. Anh sẵn lòng đón em, chắc chắn như vậy. Nhưng em mắc cỡ với em quá!

Thôi anh à, việc thương yêu chỉ là việc nhỏ thôi. Đừng nên rắc rối với nó. Cứ suông sẻ mà đi thì tốt hơn.

- Chị thật là thiếu tình cảm.

- Có thế ấy nhiều lắm cũng chẳng làm gì. Nếu em tình cảm nhiều có phải là em đã nhào trở xuống sông rồi chăng? Anh muốn như vậy lắm à?

- Không, nào tôi có muốn như vậy đâu, nhưng...

- Để cho tình cảm anh nó thơ mộng thêm, em xin thú với anh là trước kia em đã yêu anh...

- Chị ơi, chị, trời ơi chị, tại sao đợi đến ngày nay tôi mới được nghe lời ấy !

Sơn nấc lên nơi mấy tiếng chót, và lần nầy chàng không thèm giấu mặt nữa, để cho lệ tự do ràn rụa ra.

- Không, không có gì anh phải hối tiếc. Trước kia em đã yêu anh, và bắt đầu từ hôm nay em lại yêu anh, và sẽ yêu anh mãi mãi.

- Thật không chị. Chị đừng đùa tội nghiệp. Sao hồi nãy chị bảo cam chịu cái bến đục ấy?

- Thì như thế. Em cam chịu lấy chồng như vậy, nhưng em thấy không thể thương một người chồng như vậy được. Nhưng trong đời em nếu em có yêu ai, thì người đó là anh.

Sơn sung sướng cực điểm. Chàng đưa tay toan nắm lấy tay Lệ, nhưng bỗng nghe một tiếng của nàng, khiến chàng hoảng sợ lấy tay lại ngay. Lệ nói:

- Không, anh đừng hiểu lầm...

Nàng vừa nói thế, vừa thò tay ra cho Sơn nắm. Sơn kinh ngạc hết sức, chỉ nhìn bàn tay ấy trân trân mà không dám cử động gì.

- ... thì anh cứ nắm lấy đi, và chỉ có thế thôi, lần đầu và lần chót. Đây là quà kỷ niệm muôn đời mà em yêu mến tặng anh đó.

Sơn ngập ngừng tay giây lâu mới dám cầm tay bạn, trong khi ấy Lệ tiếp lời:

- ... Và anh đừng hiểu lầm. Em yêu anh tận đáy lòng em, nhưng điều đó không có nghĩa là em ngoại tình với anh. Chỉ có thái độ mới tỏ được sự to lớn của tấm tình em đối vớt anh, anh là người có quyền chiếm được em trước hết, hay là không bao giờ cả.

Sơn siết chặt lấy tay Lệ và khóc như trẻ con:

- Chị... em... ơi, thà là em đừng nói gì hết, chớ còn như thế nầy, làm sao mà anh quên được.

Rỗi bỗng chàng buông tay Lệ ra, ngồi thẳng lên mà nói lớn:

- Anh sẽ giết nó, con người không xứng đáng tấm tình của em, và cũng không đáng sống trên đời nầy nữa.

Sơn bấy giờ hối hận hết sức đã cứu Nam. Khi sáng, chàng cũng có nghĩ đến việc để Nam chết chìm luôn cho rồi, nhưng muốn làm bảnh cho Lệ phục và hối hận thôi, nên bây giờ chính chàng lại phải ăn năn.

Chàng thấy rõ Nam là chướng ngại vật độc nhứt. Lệ đã yêu chàng, đang yêu chàng, đang khinh vị hôn phu. Chỉ vì nàng chán nản không muốn phiêu lưu thêm trong tình ái, nên mới quyết lấy một người chồng như vậy thôi. Bây giờ thủ tiêu người đàn ông đó là xuôi chuyện ngay.

Lệ nhận rõ tình thế nguy hiểm nên hoảng sợ hết sức. Nàng nghiêm nét mặt lại, vịn tay Sơn mà rằng:

- Anh đừng có rối trí mà làm nhăng. Nếu anh giết anh ấy thì hóa ra anh cũng hèn nốt. Vậy thì làm sao em yêu anh được nữa mà mong. Vô ích lắm!

Hai người mải mê chuyện với nhau mà quên lửng người thứ ba đang ngủ cạnh đó.

Người ấy ngáy ầm nhà và đáng lý vì sự im lặng thình lình nơi chiếu ngủ khiến đôi bạn chú ý mới phải. Đằng nầy họ quên mất, mải cho đến khi Nam cựa mình họ mới hay.

Lệ vội buông tay Sơn ra. Cả hai tuy không làm gì nên tội, vẫn bẽn lẽn, sượng sùng. Thái độ ấy không lọt mắt Nam được.

Từ sáng đến giờ, Nam tưởng Sơn chỉ là người quen thường của Lệ thôi. Việc họ ngồi gần nhau trò chuyện trong lúc chàng ngủ cũng chẳng có gì khả nghi. Nhưng cái vẻ bẽn lẽn của hai người thật đáng ngờ.

Mặt hầm hầm, Nam đứng lên đi lại cửa sổ dòm ra ngoài.

Sơn cũng uể oải đứng dậy, xách thùng dầu rồi leo lên chiếc thang sắt để vô dầu cây đèn trên nóc nhà.

Lệ hỏi vị hôn phu:

- Anh ngủ có mệt lắm không? Ở đây bức quá !

Phải, cả nhà đều bằng kim khí: cột sắt, vách tôn, nóc cũng lợp tôn. Trong ấy nóng như trong lò lửa.

Nam làm thinh giây lâu rồi day lại nói, giọng quạu quọ:

- Bức lắm. Nhưng thằng gác đèn nói chuyện nghe êm như gió thoảng nên cũng đỡ phần nào.

Lệ khổ đến muốn cắn lưỡi mà chết. Nếu hắn chỉ ghen bóng ghen gió thì nàng có thể khinh hắn để an ủi lòng. Đằng nầy nàng lại có lỗi phần nào, thì không khinh hắn được. Mà lỗi đâu có nặng cho cam, nhưng ai biết cho mình; thành ra cũng chẳng gây được với hắn để tự bào chữa.

Nàng ôn tồn nói:

- Người ấy là người ơn của ta, anh cũng nên nhẹ lời mà đừng gọi thằng nầy thằng kia.

- Binh hả? Được, tôi sẽ để hai đứa ở đây mà gác đèn, rồi trả ơn cho nó.

Lệ chỉ biết thở dài.

Thấy Sơn tuột xuống, Nam chấp tay sau mông, đi qua đi lại trên sàn, mặt hầm hầm. Anh ta nện mạnh gót trên ván, đi rất mau, đó là dấu hiệu tức giận và nhứt là đang nghĩ nhiều.

"Anh ta đang toan tính gì trong trí?" Lệ lo sợ và tự hỏi như vậy.

Một đàng quyết thủ tiêu tình địch, một đàng ghen tức muốn đập chết người tình nghi. Thế nào họ cũng choảng nhau!

Lệ hối hận hết sức. Cũng vì nàng không khéo léo mới ra nông nỗi ấy. Nàng lại tức mình quá lẽ. Đã muốn suông sẻ đường đi, không rắc rối gì cả, mà lại chuốc lấy cái lo hôm nay và biết đâu không chuốc lấy bao phiền bực vì cái án mạng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào!

Trời càng xế càng nóng lạ. Dưới là nước, trên là gió, nhưng ở khoảng giữa nầy lại như đống than hồng.

Sơn dẹp thùng dầu rồi cũng đi lại nữa để mà ngó mông như Nam hồi nãy.

Nam dừng chơn lại, nhìn lưng Sơn. Bấy giờ anh chàng gác đèn bất đắc dĩ, không biết thấy cái gì dưới nước mà nhón gót rồi chồm ra ngoài để nhìn xuống dưới ấy.

Một ý nghĩ thoáng qua làm Lệ kinh sợ hết sức: Nam sẽ nhảy đến nắm lấy hai cái chơn kia. Vì gót đang nhón, nên Sơn sẽ bị đỡ hổng lên dễ dàng. Rồi Nam sẽ đẩy mạnh chàng ra ngoài, không sức lực nào mà chống nổi với cái đẩy thình lình và rất đắc thế nầy.

Nàng liếc mắt ngó vị hôn phu của nàng và thấy Nam cũng đang nhìn trừng trừng vào hai cái cẳng của Sơn. Chắc chắn trong đầu anh chồng ghen nầy một cuộc toan tính cũng đang nổi lên.

Nhưng sao Nam lại xây lưng, bỏ dự định để đi đi lại lại như trước? Có lẽ hắn nhớ đến hai cánh tay cứng rắn của Sơn, và nghĩ rằng khó ăn nên thôi. Sơn mà cố níu bệ cửa được rồi, rồi co duỗi chơn một lúc là hắn sẽ đuối sức, và chừng đó tình thế bị thay đổi ngay.

Lệ thở ra nhẹ nhõm.

Nàng tức sao Sơn không đề phòng gì cả, làm như không biết là Nam đang ghen tức và có thể giết người.

Sơn cứ bình tĩnh đứng đó mà dòm ghe qua lại. Độ chừng tàn một điếu thuốc, Nam lại dừng chơn khiến Lệ phải một phen hồi hộp nữa.

Nàng nín thở xem Nam làm gì bận nầy. Anh chàng chết đuối hụt bước lại một góc nhà, cúi xuống cầm lên một thanh sắt đã han rỉ. Thanh sắt to bằng ngón chơn cái và dài độ một thước. Hắn ngắm nghía một hồi rồi quả quyết bước lại chỗ Sơn đứng.

Khủng khiếp, Lệ kêu lên một tiếng thất thanh.

Sơn giựt mình day lại thì thấy Nam đang vụt thanh sắt ra một cửa sổ gần đó, vừa vụt vừa nói:

- Mẹ! Bay gần quá, chọi thử coi có trúng không.

Sơn hỏi:

- Gì đó chị Lệ?

- Trời ơi, em thấy con chim lớn nó xớt con chim nhỏ.

Sơn dòm ra thì không thấy chim đâu cả. Nhưng chàng không ngờ gì hết, vì cả Nam và Lệ đều có lý, cả hai đều có thể thấy chim, một đàng toan chọi con chim bay gần, một đàng sợ con chim xa nào xớt con chim nhỏ nào đó.

Lệ thì bối rối trông thấy.

Nàng tìm công việc gì làm cho dịu bớt sự rộn óc, và sực nhớ lại đã gần chiều. Nàng nói với Sơn:

- Anh cho em mượn cái hộp quẹt coi.

Sơn không phản đối việc Lệ nấu cơn lần thứ nhì và trao hộp diêm cho nàng. Vừa quẹt lửa, Lệ vừa dòm chừng hai người con trai. Bấy giờ Sơn cũng chấp tay sau mông, đi đi lại lại như Nam.

"Hai đứa nó đang âm thầm toan tính đập nhau đây?" Lệ nghĩ thầm.

Thật là buồn cười. Hai người con trai, đi qua đi lại mãi trong một buồng hẹp, không nói với nhau một lời, bộ tịch bứt rứt như hai con khỉ bị nhốt chung chuồng.

Lệ mong chiều xuống, trời mát sẽ làm cho họ bớt hăng. Nhứt là bữa cơm sẽ khiến họ nặng nề ra, chỉ tính chuyện nghỉ ngơi mà quên dự định làm điều hung dữ.

Cơm đã chín, khô đã nướng xong mà hai gã nầy vẫn đi không biết mỏi. Lệ trải đệm dọn bữa xong xuôi, kêu họ, họ mới chịu dừng bước.

Khi cả ba đều ngồi lại, Lệ mở lời liền cho không khí bớt lạnh.

Nàng hỏi Sơn:

- Có một ngọn đèn nhỏ xíu mà tại sao phải đến sáu người phục dịch?

- Sáu người là còn ít đa. Là vì chúng tôi phải thay phiên nhau thức đêm để canh đèn, sáu người mà hết hai người khỏi thức, vị chi còn có bốn.

- Ai khỏi thức?

- Hai anh chèo ghe.

- Đèn sao lại phải canh?

- Sợ nó tắt thình lình.

- Nó hay tắt lắm à?

- Trên thực tế, đèn nầy chưa tắt bao giờ cả từ mấy mươi năm nay. Nhưng theo lý thuyết thì đèn nào cũng có thể tắt cả nên phải canh chừng.

Vả lại quanh đèn có lồng kính. Hơi ẩm phủ lồng kính ấy về đêm, khiến đèn hay mờ, cứ độ nửa tiếng đồng hồ là phải lau kính một lần.

- Khổ quá hớ ! Nhưng có gì nguy hiểm không anh?

- Đèn nầy nhỏ nên không sao. Cây hải đăng ngoài Vũng Tàu sáng hơn gấp một trăm lần. Nên chi lão lau kính phải mù về sau, chỉ vì lão nhìn ánh sáng dữ dội mỗi đêm.

- Chiều tối rồi mà họ không về, rồi anh một mình làm sao cho kham?

Lệ hỏi điều đó và rất băn khoăn về nó. Từ hồi nấu cơm đến giờ, nàng trông đứng trông ngồi những người đi vắng. Cứ chốc chốc nàng liếc ra các cửa sổ xem coi có chiếc ghe nào xáp lại gần nhà đèn hay không.

Họ mà về thì thoát: Nam chắc chắn không dám dở trò gì bậy bạ, còn Sơn thì cũng không ra tay cược.

Sơn tuy cũng mong thế, nhưng biết bạn không dám ở đêm trên bờ nên ít hy vọng lắm. Chàng đáp:

- Thế nào rồi họ cũng về

- Có bao giờ họ không về chăng?

- Chưa bao giờ.

- Em cứ lo đêm nay là đêm đầu mà thủ tục nhà nầy bị sai chạy.

Ăn cơn xong, Sơn cũng kéo nước cho Lệ rửa chén như khi sáng. Nam thì ngồi nhăn mặt một lát rồi kêu đau bụng. Giây phút sau, hắn đi cầu tiêu liên tiếp.

Suốt mấy ngày nghỉ mát, Lệ và Nam ăn rất nhiều hải vị. Đó là thức ăn nhuận trường mạnh, lắm khi có tánh chất tẩy rửa, nên Nam bị như vậy không ai ngạc nhiên hết.

Bóng tối đã phủ lên lai bờ sông. Chỉ còn dòng nước là còn lóng lánh ánh sáng thừa của ngày hấp hối.

Sơn căn dặn Lệ:

- Đêm hôm tăm tối, nếu cô có sợ thì đóng kín cửa bên trong. Khóa kiên cố lắm, cô có thể tin cậy nơi nó được. Có gì cô kêu lớn lên là có tôi.

- Anh ở đâu?

- Tôi ngồi trên đài suốt đêm nay... nếu họ không về.

Lệ rùng mình khi nghe Sơn nói đến sự có thể ấy: họ không về. Nhưng nàng yên lòng được đôi chút mà biết Sơn sẽ không ngủ chung với Nam ở buồng ngoài.

Nói xong, người gác đèn trẻ tuổi đi lại chiếc thang sắt, Lệ bước theo bạn, nói nho nhỏ:

- Anh coi chừng đêm nay!

Không, nàng không bất công, "lo cho chồng thì ít, lo cho trai thì nhiều". Nhưng nàng tin rằng chỉ có Sơn là bị hăm dọa.

Sơn leo chậm rãi. Lệ ngước nhìn theo cho đến khi phân nửa thân trên của chàng chun vào lồng sắt trên ấy, nàng mới rời nơi đó.

Vừa lúc ấy Nam ở trong cầu tiêu bước ra. Cầu tiêu chiếm một xó nhà. Nó hẹp quá nên không ai thấy đó là một cái buồng.

Lệ hỏi:

- Anh làm sao vậy?

- Đau bụng lắm. Nam đáp xẳng lè.

- Khổ quá, không có thuốc men gì hết. Tuy vậy, có gì anh cũng kêu em.

Rồi nàng cũng vào buồng vệ sinh, cẩn thận thế cho xong đâu đấy, hầu tối khỏi ra ngoài, nơi mà nàng sợ sệt.

Bóng tối đã dày đặc khi Lệ trở ra và vào buồng riêng của mợ Sơn.

Sơn đã lên đèn trên kia. Nhưng đó là một cây đèn nhỏ và bất động, nên ánh sáng không đi xa.

Ngoài kia, ngọn hải đăng trên nổng bên tả của Vũng Tàu giống như cây chổi trong tay một đứa trẻ nghịch ngợm, cứ quay tròn và quét chân trời ở bốn phương tám hướng.

Phường đóng đáy đã treo trên đầu cây cột đáy bìa một lồng đèn cho ghe thuyền thấy mà tránh. "Chắc là đèn bão", Lệ nghĩ thế, và lấy làm lạ không biết ngày xưa, ta chưa nhập cảng đèn bão thì treo bằng đèn gì để chịu nổi gió nầy.

Cây đèn lắc lư như có ai huơi để làm ám hiệu trong đêm tối, khiến Lệ nhớ tới câu hát, và ngâm nho nhỏ:

Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung.

Càng về khuya gió càng thổi mạnh. Trong nhà tất cả cái gì kêu được đều kêu lên: mái tôn, cánh cửa, ngọn sóng đánh vào cẳng nhà sàn. Ngôi nhà đèn nhiều khi như bị lay chuyển và đứng không vững nữa.

Lệ nằm xuống chiếc chiếu trải ngay trên sàn gỗ, tai lắng nghe động tịnh bên ngoài. Nàng nhận thấy Nam thưa đi cầu lần lần.

Đến một khi kia, rình rất lâu mà không nghe tiếng bước của Nam, nàng đâm lo. Việc đi cầu của Nam như là một ngọn đèn hiệu, chỉ rõ hắn đang làm gì. Bây giờ im lìm, thì còn biết hắn ở đâu.

Ngồi lâu, Sơn chán và mỏi mệt quá, nên ngủ gục mấy lần. Lần chót chàng đang mơ thấy mình cưới được Lệ thì tiếng còi tàu vang rền đánh thức chàng dậy.

Sơn vội lau lia lau lịa lồng kính, và dòm ra ngoài. Một chiếc tàu lớn đen thui, lù lù tiến tới. Trong khối đen ấy trổ ra vài cái lỗ tròn và sáng.

Sơn tự hào là mình đang thủ một vai quan trọng, cứu mạng hàng ngàn người trên đó. Nếu đèn tắt, tàu sẽ rướn lên cồn, và sẽ có bao nhiêu người tử nạn?

Tàu qua khỏi đó rồi, chàng không dám ngồi nữa, sợ ngủ quên. Lồng sắt nhỏ quá, chàng phải thòng chơn xuống đứng trên một nấc thang.

Bỗng chàng nghe một tiếng kêu kinh hãi dưới kia, rồi gì như là một vật nặng rơi xuống nước. Giọng kêu là giọng phụ nữ, thì còn ai khác hơn là Lệ nữa.

Sơn nhảy một cái thì rớt xuống sàn gỗ một cái đụi. Chàng bấm đèn ló rọi quanh thì thấy Nam đang nằm ngủ. Nhảy một cái tới cửa buồng, Sơn vặn cửa thì thấy không khóa.

- Thôi chết rồi. Chàng kêu lên rồi không thèm rọi trong đó, Sơn nhảy lại cầu tiêu.

Chàng bước vào cầu, một tiếng rơi đánh đùng xuống nước!

Đêm dày mà mặt sông vẫn sáng. Sơn thấy Lệ đang lội lại chơn sắt, vội hỏi nàng:

- Em có sao không?

Lệ chỉ làm thinh mà lội. Sơn bắt kịp bạn nơi chơn nhà sàn và nói:

- Để anh cõng em lên.

Lệ hất tay chàng, và tự lực ôm chân sắt mà lên. Lên tới trên, Sơn lại nói:

- Em phải lấy quần áo anh mà thay mới được, đừng làm như khi sáng nữa.

Lệ vẫn ngậm tăm, ngoe nguẩy đi vào buồng và khóa chặt cửa lại.

Sơn tần ngần đứng nơi cửa rất lâu, đoạn thở ra rồi lững thững trở lại thang sắt.

Gió mạnh về khuya thổi vùn vụt vào quần áo ướt mèm của chàng mà Sơn không nghe lạnh. Chàng bận lo Lệ giận chàng và hy vọng mong manh của chàng khi xưa sẽ tan ra như bèo gặp bão.

Sơn ngồi đó lâu lắm, đâu có hơn một tiếng đồng hồ. Thèm một điếu thuốc, chàng lau sơ lồng kính rồi tuột thang mà xuống.

Anh sáng đèn trên soi mờ mờ gian buồng dưới. Nam vừa thức giấc nghe động dòm lên thì thấy hai ống quyển của Sơn thòng xuống. Một tia sáng xẹt ra trí hắn. Lẹ như chóp, hắn bước nhẹ lại góc buồng cầm lên một thanh sắt y hệt thanh sắt khi chiều, rồi nhắm nhíu kỹ lưỡng, hắn nhảy tới đập ngang vào nhượng của Sơn. Vố đập mạnh hết sức người, Sơn dầu xương thịt bằng sắt cũng phải sụm.

Nhưng lạ quá, tiếng động lại nghe như hai cây sắt chạm nhau chớ không phải tiếng sắt chạm vào thịt. Nam đau tức nơi tay đến điếng người và khủng khiếp hết sức mà thấy Sơn nhảy xuống một cái đụi như không có việc gì xảy ra.

Hắn có dè đâu bên ngoài và cạnh cái thang, còn một cột sắt nhỏ đứng lên để chống lồng sắt của cây đèn. Thanh sắt hắn đập vướng phải cột kia nên Sơn không bị thương như hắn tiên đoán.

Sơn lẹ làng nhảy đến chụp tay Nam và vặn mạnh. Đang bị đau tức, bây giờ bồi thêm cái vặn nầy, Nam la oái một tiếng rồi buông khí giới.

Nhưng hắn vẫn còn tỉnh táo. Hắn co giò tống cho Sơn một đạp thật mạnh. Bị đạp thình lình, Sơn té ngửa xuống sàn. Nam nhảy tới đứng đè lên bụng tình địch.

Trong giây phút đau điếng, Sơn thất thần. Nhưng sau một lúc ngắn chàng hoàn hồn lại. Chàng nắm lấy hai cườm chưn của Nam mà xô đi. Nam ngồi xuống thật mạnh cốt dùng sức nặng của tốc độ ngồi để làm ngất địch thủ. Nhưng sức Sơn còn bền, bụng đau muốn chết mà vẫn chưa việc gì. Chàng ngóc dậy níu lấy Nam và lần nầy xô được.

Hai người con trai bây giờ nằm đè lên nhau, ôm nhau mà vật. Khi người nầy nằm trên, khi kẻ kia lấn thế, nhưng không ai dám buông ai ra cả.

Sơn dang thân mình phía dưới ra được, rồi co đầu gối lên thúc mạnh vào đì của Nam một cái.

Anh chàng giựt thùng kêu lên một tiếng lớn rồi buông xụi tay chơn.

Biết Nam chỉ đau quá mà ngất đi trong giây phút thôi, Sơn lật đật ngồi dậy lấy thanh sắt mà Nam bỏ rơi hồi nãy.

Chàng giương oai đưa khí giới lên toan đập xuống một cái cho nát đầu người nằm đó thì bỗng nghe sau lưng Lệ kêu:

- Hãy khoan!

Sơn hạ tay xuống nhìn Lệ mà nói:

- Chắc em đã thấy cuộc đánh nhau nãy giờ. Anh chỉ tự vệ thôi.

- Tự vệ bấy nhiêu đó là đủ rồi.

Sơn không buông cây sắt, bước lại trước mặt bạn mà nói:

- Em Lệ, anh phải giết nó, vì nó là chướng ngại trong cuộc tình duyên của đôi ta. Em cứ nhắm mắt đi cho anh hạ thủ, em không có tội gì đâu cho dầu đối với lương tâm của em.

- Vô ích, đã trễ quá rồi!

- Sao lại trễ em. Em yêu anh mà chỉ vì còn nó. Một khi nó trôi lềnh bềnh trên sông Cần Giờ nầy rồi, thì ta sẽ xuôi chèo mát mái với nhau.

- Trễ quá rồi. Anh mà hạ sát Nam hồi chiều chắc tôi cũng chẳng cho. Nhưng nếu lỡ như thế thì tôi cũng còn có thể lấy anh được, còn bây giờ thì...

- Thì sao?

Sơn lo lắng vì thấy Lệ không xưng em nữa, mà chỉ xưng tôi thôi.

- ... thì đã trễ như tôi đã nói. Anh đã lộ chơn tướng như Nam rồi.

- Lộ chơn tướng? Chơn tướng anh làm sao?

- Nó cũng hèn như chơn tướng của Nam vậy.

Sơn rụng rời thả rơi thanh sắt cầm tay.

- Hèn, anh hèn ?

- Phải. Nếu anh giết Nam trong một chiến đấu oanh liệt như bây giờ thì đó là chuyện khác. Đằng nầy, trước đó, anh đã âm mưu ám hại, ám sát Nam một cách không đường hoàng như người quân tử.

- Tôi ám sát Nam?

Tới phiên Sơn cũng xưng tôi trả lại tiếng tôi của Lệ.

- Phải, anh ám sát Nam, nhưng ám sát hụt. Tôi hỏi anh tại làm sao mà ván lót trong cầu tiêu lại bị mở con vít? Tôi bước vào đó là bị sụp hầm, cả ba tấm ván đều di động như cái đu đòn bẩy.

Sơn tái mặt đi, thả rơi mình xuống sàn gỗ. Thì ra Lệ đã biết. Hèn chi nàng không hề trả lời lấy một tiếng khi Sơn nhảy theo vớt nàng, lúc nàng sụp cầu tiêu.

Quả Sơn có gài bẫy để cho anh chàng không biết lội té xuống nước mà chết luôn. Như thế ổn hơn, Lệ và pháp luật có thể tin rằng đó là tai nạn rủi ro.

Rủi quá là người chột bụng lại ngủ quên, còn người đáng lý không dám ra lại bị sụp hầm.

Số là Lệ lo lắng quá nên bị chứng buồn tiểu tiện láo nên mới lọt vào bẫy của Sơn.

Giây lâu Sơn mới nói được, giọng ngượng nghịu:

- Cho dẫu thế, tôi cũng không đến đỗi hèn như đứa giành thùng.

- Y như nhau. Nam còn tha thứ được hơn anh vì hắn bị bản năng tự tồn sai khiến. Còn anh, sao anh không đánh nhau đường hoàng với người ta mà lại làm chuyện mờ ám như vậy.

- Tốt! Cô sẽ làm vợ thằng giành thùng. Tốt lắm!

- Tôi sẽ không làm vợ ai cả. Tôi chán bọn con trai các anh lắm rồi. Các anh giành thùng, giành ăn trong cơn nguy, y như con thú. Các anh chết vì một người đàn bà, các anh giết nhau vì một người đàn bà, trời ơi, vô lý và trẻ con hết sức! Lại giết nhau một cách ám muội nữa!

Ngày mai, tôi sẽ quá giang ghe thương hồ mà đi riêng một mình, và không bao giờ gặp các anh nữa.

Bấy giờ đã ba giờ khuya. Ghe ai qua đó, và để đỡ buồn ngủ, một anh bạn chèo ghe hát lên rằng:

Hò... ơ...

Đèn Cần Giờ đêm đêm sáng tỏ,
Ghe lớn, ghe nhỏ nhìn thấy rõ - mà vào,
Biết ai lòng dạ thanh cao...


Không bao giờ câu hò chèo ghe ấy lại thấm thía nơi lòng Lệ bằng đêm nay. Và ngọn đèn Cần Giờ soi sáng đêm trường từ mấy mươi năm rồi, hôm nay lại soi sáng cả lãnh vực sâu thẳm nhứt của lòng người.

 
(Trích từ tập truyện ngắn cùng tên)

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

MƯỜI TÁM TUỔI - Võ Lan Hân


Buổi tối đang ngồi đọc báo Diễn đến với hai bàn tay lạnh ngắt, anh dùng lưng bàn tay xếp lại in vào má tôi, lạnh không thể tưởng nổi, khác nào cục nước đá áp vào mặt. Diễn mở khuy áo lấy ra một đóa tường vy trao tôi, tôi cầm đưa lên mũi ngửi mùi hương thoang thoảng dịu nhẹ dễ chịu hết sức. Tôi nói anh vừa hái trộm hàng rào nhà ai phải không? Diễn không trả lời, lấy thuốc ra hút, tôi bỏ tờ báo xuống nhìn anh nhồi thuốc vào pipe, công việc anh làm thật tỉ mỉ công phu, cạo, ngoáy, vỗ xuống mặt bàn đôi ba lần. Khi chiếc Pipe sạch sẽ vừa ý, anh cho thuốc mới vào đó. Trời tối đen như mực nhìn ra vườn với bóng cây rợp âm u, tôi đứng dậy lấy cái ly đổ vào đó ít nước cắm hoa vào. Diễn thở ra cụm khói đầu tiên, mùi thuốc quen thuộc dễ chịu, hình như cái lạnh giúp khói thuốc trở nên quyến rũ đê mê lạ. Tôi cũng bắt đầu ghiền cái lối nhâm nhi cọng thuốc li ti trong miệng cảm được vị ngọt lẫn hăng nồng chát ngắt. Diễn đưa tôi cái ví đựng thuốc tôi lắc đầu cười, gió làm cánh cửa đóng lại cái ầm, tôi điếng người đứng dậy. Tiếng ba tôi trong phòng vọng ra:
 
- Có đứa nào ngoài đó mà không chịu gài cửa lại.
 
Tôi đem bình nước sôi, hộp sữa và một ly nước cà rốt nấu chín vào phòng cho ba, ông nằm bẹp dí dưới tấm nệm, tấm chăn bọc vải hoa với các màu tối làm ông trông có vẻ tiều tụy còm cõi đơn độc, tôi ngồi xuống bên giường hỏi ba có lạnh lắm không? Ông không nói gì, nhắm nghiền mắt, tôi không biết được ông đau bệnh gì? Về già hầu như cơ thể bất luận giờ giấc để chờ đón cái cớ trước khi vĩnh viễn cuộc đời, gần đây ông hầu như không rời khỏi căn phòng. Những sáng không lạnh lắm ông chống gậy đứng bên cửa sổ nhìn ra vườn, thường lúc đó ông không nói một điều gì, ông có tuổi trẻ khá sôi nổi sung túc, ngày chưa lập gia đình ông đã từng xuất ngoại du lịch, ông quá nghiêm khắc và khó tính, chúng tôi ít khi gần gũi hỏi han cũng như đùa nghịch trước mặt ông, có lẽ vì thế mẹ tôi không chịu được đã bỏ đi từ lâu lắm, lớn lên tôi chỉ biết nghe ngóng và ngửi hơi hướm của mẹ qua đồ vật, những kỷ niệm mà tôi đoán mẹ đã để lại. Những cái đó tối tăm chìm khuất mông lung rời rạc không có gì cho tôi đích xác nhưng tôi thích và yêu vô cùng, tuyệt nhiên không bao giờ tôi đem ra hỏi ông, sự im lặng của ông làm tôi sợ một phần, và một phần muốn sống trong mộng tưởng yêu kiều đó, tôi vốn sợ sự thật phũ phàng. Có lần tôi nghe một người trong họ nói mẹ tôi là vợ kế, vợ lớn ông kẹt lại ngoài Bắc, tôi nghĩ, với tôi điều đó không quan hệ, dầu gì chăng nữa tôi vẫn là tôi, tuy nghĩ thế nhưng đôi lúc không khỏi phân vân chắc một lúc nào đó thấy cần ông sẽ gọi chúng tôi lại vén màn bí mật. Tôi đỡ ông dậy uống ly nước cà rốt, ông đòi cho thêm đường, tôi nói con có thể khuấy sữa bằng nước này luôn được không? Không có tiếng ông trả lời, tôi làm theo ý mình. Ông không chịu uống, tôi xuống bếp thay ly nước cà rốt khác bỏ đường vào. Hình như ông thích làm khổ các con, nhiều lúc đã khuya ông bắt chúng tôi đi mua những thức ăn mà các tiệm đều đóng cửa, những hôm như thế chúng tôi khó lòng mà chợp mắt.
 
Diễn đi đâu mất, trên bàn còn lại cái ví da đựng thuốc, tôi cầm lên giấu dưới bàn, nhìn ra vườn tìm Diễn, gió làm các cành cây sà sát đất. Bão ở đâu đó thì phải, thành phố luôn chịu ảnh hưởng, thời tiết bất thường đôi khi không dám định đoạt công việc gì! Có hôm chúng tôi cùng đông bạn bè tổ chức đi chơi xa, sửa soạn đâu vào đó, nửa khuya trời bỗng mưa gió to làm bay các mái tôn được lợp quá lâu ngày, cơn mưa kéo dài cả tuần biến thành phố chìm ngập trong biển nước, các con đường đầy xác lá, rong rêu được dịp mọc lên như nấm, đi tới bất cứ chỗ nào cũng sợ té. Rặng thông bên kia trường học rít dài với tiếng ù ù cuốn theo đám bụi đỏ phủ đầy lá cây còn lại trên cành, cơn mưa lúc tạnh lúc rỉ rả cũng không làm chúng sạch đi được. Diễn đi vào với gói cà na muối trên tay, tôi cầm lên một trái nhưng không ăn vội, nhìn Diễn nhai ngon lành. Diễn nói hồi chiều nhìn thấy tôi ngoài phố sao lúc đó buồn quá vậy làm Diễn không dám gọi. Diễn hơn tôi mười tuổi. Tụi bạn vẫn cho là chàng quá già, tôi chỉ cười cười, bạn bè chơi vậy thôi tụi mày tư tưởng quá nông cạn.
 
- Lúc biết mình không còn là trẻ con nữa anh có buồn nhiều không?
 
- Anh chưa trải qua thời đó bao giờ dù anh đang gần ba mươi.
 
Để bào chữa câu nói khôi hài có lẽ không đúng lúc anh chống khuỷu tay xuống bàn tựa cằm nhìn tôi chằm chằm.
 
- Anh khuyên Khuê một điều, đừng có nghỉ vẩn vơ.
 
- Nhưng em đã người lớn rồi!
 
- Mười tám theo anh chưa phải là lớn.
 
- Em lấy tiêu chuẩn cuộc đời để đánh dấu giai đoạn  đời mình.
 
- Hãy cứ bình thản không nghĩ thì nó vẫn đến, từ chối nó vẫn hiện hữu.
 
- Vậy em nên làm gì?
 
- Bình thản chờ đợi, yên mà chấp nhận.
 
- Làm sao không nghĩ đến được khi biết mình đang bước qua giai đoạn, em sắp đi làm rồi, bước chân vào đời là giã từ tất cả, giã từ những gì thân yêu thánh thiện, những gì đáng nhớ và đáng quên nhất.
 
- Khuê đã biết phải dạy ở đâu chưa?
 
- Trại Hầm... hơi xa anh nhỉ!
 
- Ở đấy cho em tha hồ ăn mận, đến mùa có lẽ mỗi ngày học trò hối lộ cô giáo vài ký, lúc đó ăn không hết em nhớ bán lại cho anh nhé! Anh sẽ làm mứt, đợi hết mùa đem tặng lại em.
 
- Em đang lo mà lúc nào anh cũng đùa được.
 
- Em sẽ không bao giờ giã từ tuổi thơ được, đám học trò hằng ngày là mạch huyết dấy lên nung nấu tâm hồn để em thấy mình luôn là cõi vô tư tinh khiết.
 
- Nhưng mình phải tạo ra một hào quang.
 
- Chẳng có hào quang nào cả ngoài cõi lòng thiết thực trung hậu,
 
Chúng tôi cùng ngồi xuống chiếc ghế dài ngoài vườn. Sao bắt đầu mọc đầy trời với những chấm nhỏ sáng li ti, nếu ai yêu và thích ngắm sao hãy lên thành phố cao nguyên này luôn được toại nguyện. Ngày còn bé, những đêm đầy sao như đêm nay, tôi rất sợ phải đi ra ngoài, đã sợ lại hay ngước nhìn trời. Một lần mẹ tôi sanh em bé nằm trong bệnh viện, ba đèo tôi sau chiếc xe đạp vào thăm, lúc về trời tối om chi chít các vì sao, tôi ngồi sau gió lạnh run, để giúp mình không nghĩ ngợi và ngắm mông lung tôi cố gắng chú mục vào chiếc lưng của ba. Cái dáng to lớn kềnh càng bao phủ tôi trong cái áo lạnh đen, đôi chân ba đạp khoan thai đều đặn, hai bên đường đầy tiếng côn trùng rên xiết, tôi sợ hãi với chung quanh, cả cái lưng ba choàng trước mặt không làm cho tôi thấy yên tâm, mỗi lúc cái lưng hình như lớn dần lớn dần, tôi nhìn khắp cùng để rồi bầu trời đầy sao ám ảnh mãi, những vì sao sáng lung linh dày đặc, chúng như rượt đuổi theo mỗi lúc càng nhanh để đôi tay không còn nắm giữ được yên xe. Lần ngã đó tôi phải nằm bệnh viện, từ đó ba không còn cho tôi cái thích thú ngồi sau bọt-ba-ga. Đôi lần cùng ông vui vẻ chuyện trò, hay hôm nắng ráo mặc đầm tôi muốn chỉ cho ông vết thẹo trên chân để ông biết được lý do và nỗi sợ hãi của tôi lúc đó, nhưng rồi một cái gì quá xa cách âm thầm len lỏi gậm nhấm sợi dây thiêng liêng. Chính ông vô tình gieo vào óc tôi sự yếu đuối tinh thần để từ đó tôi thấy chiếc xe quá lớn lao xa lạ không bao giờ mình có thể trèo lên đó nổi.
 
- Em vẫn nghĩ nếu mẹ em không bỏ đi, ba em chịu khó gần gũi con cái, chắc em không phải có bộ óc như ngày nay.
 
- Khuê không thích có khối óc biết suy nghĩ?
 
- Em không muốn nói thế nhưng ít ra sự hiểu biết và suy nghĩ ngày nay không làm em tủi thân.
 
- Đừng nên trách ai cả. Khuê không nên nghĩ cả ba hay mẹ, một hay cả hai đều ích kỷ, biết đâu mẹ không đi, ngày nay Khuê phải sống và chứng kiến một gia đình luôn cãi vã, lúc nào không khí cũng cực kỳ căng thẳng, chỉ mong cho một sơ hở người nọ trút phẫn uất lên đầu người kia.
 
- Đó chỉ là một an ủi. Mẹ em hẳn bà phải biết ngày nay em thật đơn độc và quá khó khăn trong cuộc sống bởi bà đã hiểu ba em hơn ai hết. Chắc mẹ em đã có một gia đình khác, bây giờ nếu được gặp lại mẹ không chắc gì em nhận ra, ngày đó em còn quá bé, trong trí giờ còn lại lờ mờ loáng thoáng và em vẫn luôn nghĩ một ngày nào đó đứng trước đứa em nhỏ nhất lúc ra đi mẹ đem theo liệu em có biết được, hay phải cần một ai đó nói lên sự thật.
 
- Nếu mở được óc em ra anh chỉ xin lấy một ngăn nhỏ xíu cho em hết nghĩ vẩn vơ.
 
- Không nghĩ đến cũng không được, anh thấy ba em càng ngày càng yếu. 

Trong lúc nói tôi tưởng tượng ngày ba tôi chết, rồi nó sẽ đến, có thể kề bên chân rồi, ý nghĩ đó đã đưa tôi đến quyết định thôi học dù mới nhập học được vài tháng lớp 12, quyết định này làm tôi phân vân lo âu, tôi muốn mình qua được năm cuối cho bậc Trung học, năm đánh dấu bước qua giai đoạn. Tôi nghĩ, học hết năm này sẽ giúp cho tôi có thêm được nghị lực cũng như kiến thức cho bước chân ngoài đời. Sức khỏe của ba mỗi lúc càng suy yếu thấy rõ không cho tôi còn cái nấn nuối chọn lựa, tôi ghi tên học khóa sư phạm cấp tốc, điều này tôi muốn vẫn giấu ba tôi, muốn có được sự yên tâm an ổn của mình khi ba nằm xuống dù rằng với số lương chưa quá mười ngàn chắc gì nuôi nổi bản thân tôi. Rồi đây không còn quá một tháng. Ông biết được tôi trở thành cô giáo dạy tiểu học ông sẽ nghĩ gì? Hay lông mày ông thêm vài sợi bạc cùng thân thể cõi còm hơn, tôi chỉ còn biết ứa nước mắt mỗi khi nghĩ đến và phải nói với ông bằng cách nào đây để ông không thấy mình ngày nay hoàn toàn bất lực. Mười tám tuổi rồi! Chưa bao giờ tôi nghĩ năm mình mười tám tuổi lại chính là năm tự định đoạt của cuộc đời. Con số 18 đẹp vô ngần. Cách đây vài năm có vài đứa bạn lớn hơn tôi vài tuổi lấy chồng, tức là cũng mười tám tuổi, tôi vẫn thường chê tự rước cái khổ vào thân cho sớm, mười tám hãy còn ngây thơ và tâm hồn thánh thiện quá! Để rồi không ngờ đó lại là con số đến với mình trong cô độc bao la và con đường khúc chiết độc hành.
 
Diễn đi vào nhà, chàng lấy đem ra cho tôi chiếc áo lạnh, bấy giờ tôi mới biết được hai cánh tay trần nhám xì bởi cái lạnh làm nổi da gà, Diễn hỏi có thấy cái ví đựng thuốc của chàng không? Tôi nói không biết, để chàng tin hơn tôi thêm coi chừng anh bỏ quên ở hàng quà. Diễn đi ra cổng nhìn xuống con dốc, bóng tối làm tôi không nhận ra chàng. Diễn đứng đó không đi, tôi nghĩ đến cái khổ sở của người ghiền thuốc nặng đi ngoài trời sương gió không có đốm lửa, liệu tôi có được một tinh thần để nói lên quyền hạn ngăn cấm Diễn bớt hút thuốc mỗi ngày. Tình cảm tôi cứ để mặc, trôi theo thời gian có lẽ mối nghĩ ngợi, buồn phiền âu lo làm tôi không còn thì giờ chăm sóc tưng tiu đến những ai vẩn vơ nhưng đầy chất liệu nuôi sống hồn người và Diễn vẫn nói anh thích tôi vì tôi thật tự nhiên, trung thực những điều thượng đế ban cho. Còn tôi, tôi sợ chuyện lăng nhăng. chẳng ra gì chỉ tổ làm mình mệt óc. Diễn đi vào không ngồi xuống ghế, anh đứng nhìn tôi chăm chú quá lâu, ánh mắt sáng dịu hiền, làm tôi hoảng sợ đứng dậy, hai tay Diễn ôm trọn mặt tôi, hơi thở đầy thuốc lá.
 
- Khuê... anh yêu...
 
Tôi gỡ tay Diễn ra, không biết được đôi tay tôi quá mềm hay đôi tay Diễn quá cứng.
 
- Không biết anh nói với Khuê câu đó sớm quá chăng nhưng không nói anh sợ rồi đây anh sẽ mất Khuê!
 
- Anh nghĩ rồi đây đi dạy tư tưởng em thay đổi chăng?
 
- Không, anh không dám nghĩ thế! Nhưng em quá chín chắn, nghiêm trang làm anh sợ.
 
Diễn ở lại chơi với tôi đến gần giờ giới nghiêm. Chúng tôi hầu như không nói được điều gì ra hồn, tôi nhớ đến đóa tường vy, nhớ buổi học tập hồi chiều ở trường V.T., ngôi trường ngày xưa tôi theo học 5 năm tiểu học, chỉ còn tên đường và khu đất mang âm hưởng xa xưa. Trường đã xây cất lại từ lâu theo lối kiến trúc mới, các bóng cây, cổng trường và các thầy cô hoàn toàn xa lạ. Lớp sỏi xanh trải đều sân trường kêu lạo xạo dưới chân làm tôi không thể tưởng tượng hình dung lại dấu chân đã chạy nhảy nô đùa, những vết trợt té cùng lũ bạn ngày ấu thơ sân trường với rong rêu xanh rì của mùa mưa hay lớp bụi đỏ quánh cho ngày nắng ráo. Tôi nghĩ đến câu tỏ tình của Diễn không làm tôi ngạc nhiên nhưng trong tôi đang có sự khác thường xâm chiếm để thấy Diễn không còn là Diễn của hôm qua, của những ngày mới quen.
 
Lúc tiễn Diễn ra cổng tôi không quên trả lại cái ví da nhỏ đựng thuốc, tôi đùa với chàng:
 
- Khi nào không dùng đến cái ví này nữa, anh nhớ cho em, em sẽ đựng tiền cắc để dành mỗi buổi đi dạy trả tiền xe.
 
- Nếu vậy anh cho Khuê ngay bây giờ, vì từ nay anh sẽ cai thuốc lá dành tiền đó mua xe làm tài xế đưa Khuê đi làm.
 
- Chỉ sợ tiền anh dành được cứ nối đuôi theo sau giá xe tăng vọt mỗi ngày.
 
Diễn xin được hôn tôi, tôi lắc đầu cười né tránh, tôi tưởng tượng lớp học đầy nghẹt những mái tóc đen nhánh, những ánh mắt ngây ngô, những chiếc miệng cười vô tư xinh xắn, chúng đang hướng về tôi, cô giáo mới, trong đầu óc với vài thắc mắc dò la tìm hiểu, âm thầm đưa mắt hỏi nhau: Không biết cô giáo này hiền hay dữ ; khó lắm không? Có hay đánh đập học trò? Mấy cuốn sổ rộng bản trong đời chưa bao giờ cầm đến, viên phấn trắng đợi chờ, tấm bảng đen sau lưng, chỉ mới nghĩ thôi đã làm tôi muốn ngộp. Tôi nhìn xuống các em, phải nói câu mở đầu ra sao đây, có khó khăn quá không? Trách nhiệm thật nặng nề. Tôi nhìn Diễn. Phải. Không có một hào quang nào cả! Tôi sẽ vào đời bằng hành trang câu nói đó. Anh hãy giúp em đi lần từng bước từ tốn khoan thai nghe Diễn.
 
 
VÕ LAN HÂN       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 93, tuần lễ từ 15-3 đến 22-3-1973)

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2025

NGƯỜI QUAY TƠ - Nhất Linh

Từ Nương là một người con gái thôn quê làm nghề chăn tằm, ươm tơ, ở làng Xuân Nghi huyện Hồng Lạc. Nhà nghèo, cha mẹ đã già, làm lụng để nuôi hai thân. Cô trông xinh xắn, người thanh thanh vừa tầm, hai con mắt êm đẹp, mỗi khi trời nắng, gió lạnh, cô ra sân hai tay ngọc xe sợi tơ vàng dệt lụa là cho người trong làng mặc. Một hôm, đương ngồi quay tơ ngoài sân thời có một người học trò đi qua, thấy nàng đẹp quá mê đứt đi, ngày nào cũng hai lần trèo qua cái đồi cao, sang để gặp mặt nàng như thế, được gần một năm. Về sau nàng biết mà cảm thương, đem lòng mến. Mùa đông gió trên đồi thổi mạnh, lắm hôm rét quá mà nàng cũng chịu khó ra ngồi quay tơ ngoài sân cho người học trò được trông thấy mặt.

Tin đi mối lại rồi hai người lấy nhau, lúc ấy nàng mới có mười sáu tuổi. Nhà chồng nghèo nàng vẫn giữ nghề cũ nuôi chồng đi học, năm sau đỗ tú tài. Hai vợ chồng hòa hợp yêu thương nhau lắm, lấy nhau được trên hai năm cũng chưa có con cái gì. Một hôm ông tú gọi nàng đến, khóc và dặn rằng:

- Tôi đi phen này chưa biết bao giờ về, mà tôi cũng không mong đâu trở về nữa, không biết có còn thấy được mặt nhau nữa không?

Nàng nói:

- Thôi tôi hiểu cả rồi, việc cửa nhà tôi xin thay, chàng cứ yên tâm mà đi. Việc gì phải khóc lóc thế. Làm tài trai trong nước mà không được như người con gái quê mùa này ư?

Nhưng nàng nói thế rồi nàng cũng khóc theo. Ông tú lên Hà Nội, rồi đi đâu mất, họ đồn là theo bọn văn thân. Mấy tháng sau có mật thám về bắt bà cụ chánh là bà mẹ ông tú và từ đường lên tra hỏi. Lúc mới đến, nàng biết ngay, mặt tái ngắt, song gượng lại ngay mà nói:

- Các bác cứ để yên tự khắc bà tôi và tôi sẽ lên, chúng tôi không việc gì mà phải trốn, không cần phải xích tay, xích chân gì cả.

Các bác kia thấy người con gái nhà quê mà ăn nói cứng cáp, khẳng khái, bằng lòng để cho hai mẹ con được tự do.

Ông tú phải đi đày Côn Lôn chung thân: Nàng lại đem bà Huấn về quê giữ cái guồng tơ khung cửi để lấy tiền phụng dưỡng thay chồng. Như thế được bốn năm trời: Từ mẹ chồng cho đến người trong họ ai cũng cho phép nàng cải giá, nàng nhất định không lấy ai cả, quyết giữ lời thề với người cũ. Ông tú ở Côn Lôn cũng mấy bận viết thư về khuyên nàng, bắt nàng lấy người khác, lời lẽ thảm thiết thương. Nàng xem thư chỉ khóc rồi có khi nào nhớ chồng, lên tít trên đỉnh đồi cao mà đứng trông, có khi về nhà bố mẹ đẻ ra ngồi quay tơ ngoài sân, tưởng tượng đến lúc gặp gỡ, người thư sinh từ mấy năm về trước; những lúc ấy thời nàng lại đẹp lên bội phần, ai cũng thương mà ai cũng yêu, trong làng nhiều người rắp ranh bắn sẻ: Một ông giáo có quen ông tú, góa vợ đã lâu cũng đem bụng yêu nàng, cho mối sang hỏi. Lúc mối sang, nàng biết ngay, than rằng:

- Ai ngờ bác giáo mà cũng đến như thế ư!

Nói xong mắng mối đuổi ra. Ai cũng giận mà ai cũng mến nàng hơn trước.

Bà cụ Huấn mất, nàng làm ma chay cho chu đáo, rồi lên tỉnh xin phép đi theo chồng. Xin mãi mới được phép, nhà nước lại cho cả tiền tàu nữa.

Nàng về quê thu xếp, rồi một thân một mình ra đi, đất lạ quê người. Nàng ở bên ấy với chồng khổ sở trong ba năm, sinh được một đứa con trai thời ông tú bảo nàng về:

- Như tôi chiếc thân đày đọa đã đành chứ vợ con tôi thời có tội tình gì, nay đã được đứa con trai để nối dõi thời mợ đem con về nước, cố mà nuôi cho nên người khí khái, chứ ở đây với tôi mãi, thời chỉ thêm phí hai đời người nữa mà thôi. Còn tôi... tôi cũng không định sống lâu đâu, xin đừng tơ tưởng đến tôi nữa!

Nói xong, nắm tay vợ khóc mà từ biệt.

Hôm nghe tin nàng đem con về, cả làng Xuân Nghi ai ai cũng rủ nhau ra quán đón mừng. Lúc nàng bế con ở trên xe xuống hai con mắt ngơ ngẩn đưa nhìn khắp hết người làng, trông nàng có vẻ thần tiên: Nàng có vẻ cảm động quá ứa nước mắt mà khóc, người làng cũng nhiều người khóc theo.

Nàng thấy ai cũng có bụng kính mến, nên vui lòng mà làm ăn, tậu được cái nhà con ở chân đồi ngày ngày đi buôn hàng tấm. Một hôm nàng đang ngồi chơi với con thời có giấy về báo tin rằng ông tú tự tử mất đã được hơn một tháng rồi. Nàng ôm con vào lòng rồi ngã xuống ngất người đi. Mấy ngày hôm sau mới nhận được bức thư ông tú gửi về từ biệt.

Nàng cũng khuây dần: Có lẽ nàng nghĩ mình đã có con cũng đủ, và một đằng sống một đằng chết, sống mà cũng như chết, thời thà chết còn hơn, linh hồn mới có thể về cùng vợ cùng con được.

Năm sau những người phải tội đi đày chung với ông tú đã được tha cả. Nàng cũng biết tin ấy, thế có ai oán không? Đứa con nàng tự nhiên phải bệnh chết, nàng hóa điên từ đấy; bây giờ cứ đi lang thang, hát nghêu ngao, nhưng thường thường nàng hay về nhà bố mẹ đẻ, lấy cái guồng năm xưa ra quay tơ, quay cả ngày mà không biết mỏi, thỉnh thoảng có hát lên mấy câu.

Mới đầu cũng thương hại, song nghĩ cho kỹ thời thế lại hay cho nàng đấy, có lẽ thế mà lại xong, thật đấy nàng là người sung sướng nhất đời còn chúng mình đây không được như nàng phải đày đọa chung thân.

Ừ, thử nghĩ xem sống mà đeo cái đau khổ suốt đời, cái đau khổ không bao giờ khuây được chỉ có một cách là tự diệt mình mới thoát ly, thời cái điên là chẳng nên ước lắm sao? Nàng không biết mình là khổ thời nàng là người tiên rồi. Ôi! Nhưng bây giờ Từ Nương còn biết gì nữa, nàng có nhớ đến chồng con nàng nữa đâu, ai đã yêu nàng, nàng có nhớ đâu mà nàng còn yêu ai nữa, nàng chỉ ngày ngày thơ thẩn một mình lên tít đỉnh đồi cao mà đứng trông... Nhưng nàng trông ai bây giờ?

Đường trần mới đến nửa chừng,
Mà guồng tơ cũ đã ngừng bánh xưa.
 
(Trích trong tập truyện ngắn cùng tên)
 

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2025

VUÔNG VẢI TRẮNG - Nhất Linh


Minh Tử là một người học trò nhà nghèo rất hay chữ, cha mẹ qua đời cả, lấy được người vợ tên là Trần Thị con nhà giàu có. Chàng ở gửi rể ở đấy, giang sơn chỉ có hai cặp sách, ngày ngày nấu sử sôi kinh. Trần Thị vốn tính xấc láo mà ác nghiệt, lại cậy mình giàu có, hay chê chồng dài lưng tốn vải. Minh Tử thế bách thường vẫn phải nhịn, đọc sách mà lơ đi.

Một hôm có hai người bạn thân ở Thái Nguyên đến chơi; liền bảo vợ làm cơm thết đãi, rồi ra tiếp chuyện bạn, nói những việc Tam hoàng ngũ đế bình những thơ Lý Bạch, Đỗ Công, nào luận về thuyết Dương Minh, nào bàn về văn Trang Tử; đã khám phá được nhiều điều trong rừng văn kim cổ, xong xem ra nói chuyện cũng đã lâu. Liếc mắt trông xuống dưới bếp thời thấy khói lạnh tro tàn, lắng tai nghe không thấy tiếng mâm, tiếng bát, có ý chột dạ. Lén dò xuống thời thấy trên bếp có một cái nồi đồng to đánh sáng choang, trong để một chồng sách, bên cạnh có để một cái thớt với con dao. Tinh thần Minh Tử lúc bấy giờ bảng lảng, đành phải gọi hai bạn thân xuống bếp chỉ vào mà nói.

- Tôi lấy phải vợ không ra gì, các bác đến chơi bảo nó dọn cơm thết đãi, thời nó làm ra thế này là có ý bảo chỉ có sách, thời đem luộc sách đi thái ra mà thết bạn, thế có cực không. Để tôi xem có cái gì hai anh đem ra cầm rồi vào hàng cơm ăn vậy.

Các bạn vội nói:

- Ấy chết, chúng tôi cũng có tiền cả đây chứ không đâu, tưởng là bạn thân thời vào nói chuyện ăn cơm, không có thời thôi, chứ có ngại gì.

Tối hôm ấy Minh Tử lấy sách cho vào cặp, bao nhiêu quần áo nhà vợ may cho trả lại cả, chỉ mặc có cái áo rách và một cái quần cũ của mình ngày trước, định chí trốn đi. Trần Thị sang nhà bố mẹ ngủ không về. Sáng sớm tỉnh mơ, Minh Tử gánh sách đi thẳng, không còn quay cổ lại nữa. Đi mãi, ai ngờ cái quần cũ quá, càng đi càng rách tứ tung, mà chỉ có cái áo cánh, không sao che đậy được, song cứ nhắm mắt đi liều. Đến gần một cái giếng thời gặp mấy cô con gái đi gánh nước, xấu hổ quá, phải ẩn xuống giếng. Họ kêu rầm lên:

- Ô hay! Giếng nước cả làng người ta ăn, cái bác này hư quá.

Minh Tử luống cuống nói rằng:

- Thưa các cô, quả tôi không dám thế, tôi vốn là học trò nghèo, quần áo rách tứ tung cả, không có cái khố mà mặc, thấy các cô thẹn quá phải xuống ẩn ở đây, các cô không tin thời đã có hai cặp sách mà tôi để bờ kia.

Họ nhìn thấy cặp sách, không nói gì nữa gánh nước về, một lát lại ra. Có một cô xinh nhất đám ấy lần khân ở lại sau, đợi chị em xa rồi đi ghé qua chỗ Minh Tử ngồi ném cho mấy vuông vải trắng cô vừa dệt xong, rồi cứ lặng yên gánh nước đi thẳng.

Minh Tử đóng khố rồi gánh sách chạy theo hỏi:

- Thưa cô tôi hỏi không phải, cô làm ơn cho biết tên cô là gì để sau này đền ơn.

Cô kia không trả lời, Minh Tử cứ lạch cạch vác sách theo mà kêu, đến cổng làng hỏi đám trẻ thời mới biết tên cô ấy là Thảo, con ông Lý cựu trong làng.

Hỏi xong lại gánh sách đi, đi mãi mỏi chân và đói bụng quá, sẵn có bóng cây đa ở giữa đồng liền ngả lưng nằm ngẫm sự đời.

Ông chánh tổng ở làng gần đấy trưa nằm ngủ thấy có thần báo mộng rằng cánh đồng làng nhà người có ông Trạng bây giờ đang đói nằm ở gốc đa. Ông Chánh giật mình thức dậy lấy tay dụi mắt mà lẩm bẩm nói khôi hài một mình rằng:

- Quái, ta tỉnh hay mơ. Trạng nào lại nằm ở ngoài cánh đồng mà Trạng nào lại đói bao giờ. Song thần nhân báo mộng, thử ra xem sao.

Liền lấy nón ra chỗ cây đa thời chẳng thấy Trạng nào cả, chỉ thấy một anh đóng cái khố trắng đương nằm bắt chân chữ ngũ ở đấy, hỏi thời nói học trò nghèo, lỡ đường đói bụng nằm đợi chết. Ông Chánh liền mời ngay về nhà dạy học con mình, may quần áo, cấp lương cho tử tế.

Năm năm sau quả nhiên Minh Tử đỗ Trạng Nguyên làm quan tại triều. Một hôm nhớ người con gái gánh nước năm xưa, liền xin nghỉ đi tìm nàng, ăn mặc như người học trò kiết; tìm đến cái làng ấy thời họ nói nàng đã lấy chồng, bây giờ chồng chết, ở vậy nuôi con. Một hôm đón nàng ở ngoài đường mà chào:

- Cô còn nhớ người học trò ngồi ẩn dưới giếng không?

Nàng nhìn một lúc rồi nói:

- Phải tôi nhớ ra rồi, nhưng bây giờ ông muốn đến xin tôi gì nữa.

Minh Tử nói rõ ngay rằng:

- Tôi muốn cùng cô kết nghĩa trăm năm.

Nàng đỏ mặt lên mắng là sỗ sàng, rồi bỏ đi.

Minh Tử lên huyện xưng danh hiệu rồi bắt cho giấy về đòi nàng lên, nàng chỉ khóc mà nói:

- Tôi đã thề giữ trinh tiết với chồng, thời tôi xin giữ cho đến suốt đời. Quan Trạng ngài biết tới, thời cũng xin tạ lỗi mà thôi, sự đã quá rồi, không sao được nữa.

Minh Tử cố khuyên thế nào cũng không nghe, cho nàng tiền bạc bao nhiêu nàng cũng từ chối cả.

Minh Tử than rằng: Cái danh phận, cái phú quý của ta không đủ cảm được nàng, mà mấy vuông vải trắng của nàng cảm ta sâu xa đến thế!
 
(Trích từ tập truyện ngắn Người Quay Tơ)
 

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2025

TRẢ THÙ

Phong liếc mắt vội qua trang nhất của tờ báo. Những chữ lớn in đậm nói về thời cuộc. Hôm nay tình hình thế giới cũng chỉ lục đục bình thường như hôm qua hôm kia. Ba ông hoàng thân nước Lào đánh một ván cờ quá kéo dài khiến những kẻ tò mò đã chán, bỏ cuộc dần dần. Đến nay thì những địa danh Nam Tha, Vạn Tượng, Sanh van na khet, Mương Phin... Lẫn lộn tất cả, người bàng quan không còn nhớ rõ địa điểm nào thuộc về phe nào nữa. Những cảnh giết chóc đốt phá, những tiếng khóc đau thương trong khói lửa chỉ còn hiện ra mờ nhạt dưới hình dáng lãnh đạm của những chữ in quá quen thuộc. Ở những địa điểm khác nơi mà tình hình chưa ngã ngũ rõ ràng thì nhà báo có một số dụng ngữ lập lại: Tổng trưởng X tỏ ý tin tưởng rằng... Theo giới thạo tin thì... Người ta ước đoán... Có lẽ... Nhìn về phía tình hình trong nước thì chỉ một đôi vụ lường gạt nhỏ, một vài cái chết quá mức tầm thường (chẳng hạn bị tình phụ mà chỉ nhảy xuống sông tự tử rồi chết luôn). Những sự việc nhỏ xảy ra trong xã hội như được xếp đặt theo từng mùa. Một vụ tạt át xít lớn bao giờ cũng được nối tiếp nhau bằng một số những vụ tạt át xít nhỏ. Rồi như nhàm với trò chơi này, một loạt những thanh niên mê tốc độ rủ nhau lần lượt gây tai nạn trên xa lộ mới, cung cấp cho báo chí một số những tĩnh tự ghép: khủng khiếp, rùng rợn, chưa từng thấy, quá sức tưởng tượng... Rồi sau đó mọi người nghỉ ngơi và báo chí cũng dường như nghỉ ngơi theo.

Vừa đưa mắt tìm những cái đề, Phong vừa kết luận một cách thất vọng: "Chẳng có gì quan trọng".

Thật vô lý hết sức nhưng cũng như mọi độc giả khác cả bình dân lẫn trí thức, chàng thấy rằng tờ báo không xứng với giá tiền mua nó khi nó không nói đến những tin tức kinh khủng. Chẳng hạn: Cuộc đảo chính xảy ra ở nước A, xác nhà vua bị phơi giữa chợ... Động đất ở thành phố B nhà sập vùi nửa triệu người... Trong bữa tiệc linh đình của nhà triệu phú C, tất cả quan khách điều bị ngộ độc chết cả... Hoa hậu thế giới D bị tên tướng cướp... vân vân. Không biết có phải bản chất con người thường thấy mình sung sướng hơn lên khi những người xung quanh họ gặp tai ương thất bại không? Có lẽ như thế thật chăng?

Phong vừa lặng lẽ lý luận vừa lật sang trang sau. Đó là trang quảng cáo những cuộc vui, những tuồng hát, tuồng chiếu bóng. Chàng tò mò đọc qua một lượt tên các rạp, tên các tuồng, và tên những tài tử chính. Sự tò mò của chàng giống y như sự tò mò của kẻ đi xem đám cưới, xem người ta ăn tiệc, xem người ta nhảy đầm. Lý do là chàng không ở Sài Gòn mà ở tỉnh nhỏ.

Chàng lật sang trang ruột. Những truyện ngắn, truyện dài, truyện ly kỳ, truyện tò mò, sân khấu kịch trường, vườn thơ, mách luật... không phải là món ăn của kẻ vội vàng. Chàng nhìn xuống mục "Tử Vi". Bỏ đi những hình con chuột, con trâu, con cọp, con mèo... in lòe nhòe, mắt chàng đậu lại ở ô con chó. Nhà khoa học huyền bí dạy rằng:

"Có tin hay ở xa đến. Tuổi 31 gặp bạn tâm tình. Buổi chiều có hoạnh tài"

Cái điệp khúc "Có tin hay ở xa... Gặp bạn tâm tình... Có hoạnh tài..." chàng đã nghe nhiều lần, hôm nay tự nhiên làm chàng nhíu mày khó chịu. Thường mấy ngày trước những lời tiên tri đều đến làm cho chàng vui, cái vui giễu cợt. Đạo nhân bảo đừng nên ra vốn, bất lợi. Thì chàng có vốn bao giờ đâu mà ra? Đạo nhân bảo "Gặp hoạnh tài". Hoạnh tài đâu mà gặp? Đã mấy tháng nay chàng không mua vé xổ số nữa. Trước đây, kỳ nào cũng mua ít nhất hai vé. Không phải vì mong ở hoạnh tài nhưng mà vì cô bán vé số có đôi mắt đẹp. Cái thú của người độc thân là mua bán không tính toán. Ngày còn ở Huế, chỉ vì cô bán hàng tạp hóa đẹp mà hộc bàn nhà chàng đầy những viên xà bông thơm. Đứng nói chuyện vẩn vơ gì một lát rồi khi bước ra phải mua một vật gì cầm tay. Chỉ có xà bông thơm là tiện mua nhất. Ngày đổi về Phan Rang thì vì cô thu ngân ở hiệu thuốc tây mà nhà chàng đầy những hộp Kalmine, vì cô hàng sách Thanh Đạm mà phong bì thư gửi hoài không hết. Thật cũng dễ tìm biết tâm hồn của một anh chàng độc thân. Cứ nhìn trong phòng thấy món gì dư một cách khả nghi thì cứ truy nguyên ra là tìm được manh mối. Nhưng từ khi cô hàng bán vé số lấy chồng thì chàng thôi không còn mua vé số nữa. Chàng không có số được hoạnh tài. Mua bao nhiêu vé mà chưa lần nào trúng được một trăm bạc. Thậm chí có vé chàng thử đem dò đến 10 lần xổ mà tuyệt nhiên không lần nào trúng nổi 2 con số sau cùng. Vậy thì chỉ còn có mục "Tâm tình" là hơi có thú vị. Ba mươi mốt tuổi rồi mà chưa có vợ thì lẽ tất nhiên là mục tâm tình phải rất có thú vị. Nhưng đã rất nhiều lần rồi những tâm tình đạo nhân bảo gặp mà vẫn không gặp, tin hay bảo đến mà nào thấy đến.

Phong vất tờ báo xuống giường, hơi bực bội như mình vừa bị ai đùa dai.

Suốt cả buổi ngồi làm việc, chàng tưởng đã quên đi những điều nghĩ ban sáng. Nhưng không. Cứ mỗi lần ngơi công việc một chút, mỗi lần ngồi lắng lại lòng mình một chút là chàng cảm thấy có cái gì khang khác, có cái gì vương vấn trong tâm hồn. Suy nghĩ một tí, chàng nhớ ra ngay mấy điều tiên tri ở mục Tử vi. Và chàng lại nhẩn nha nghĩ đến nó. "Tuổi 31 gặp bạn tâm tình..." chàng thấy lòng gợn một niềm vui nhẹ. Bạn tâm tình? Đó là cô Khánh ở nhà đối diện vẫn mỉm cười kín đáo mỗi lần chàng bất chợt nhìn sang gặp cô đang cầm thau nước tưới hoa? Đó là cô Duyên mà chàng nhất định phải gặp đi xe đạp ngược chiều với chàng vào lúc 7 giờ 15 ở ngang ngã tư Lê Thánh Tôn - Phước Hải? Không, chắc không phải đâu. Đó là những người đã quen quá, quen đến cái độ mình không nghĩ rằng có mặt. Không, có lẽ phải là... là... là... là ai? Tìm mãi không thấy ai có thể là bạn tâm tình, Phong chợt buồn cho cuộc đời cô đơn của mình. Gặp phải trở ngại, óc chàng dừng lại một chút rồi nhẹ lướt qua mục "buổi chiều gặp hoạnh tài" như sẵn theo một cái trớn nhỏ. Nhưng hoạnh tài ở đâu mà gặp? Mình không mua vé số nữa. Mình không hi vọng gặp được của rơi vì mình không bao giờ đi bộ. Thấy mình sắp trở lại những ý nghĩ, những lý luận hồi sáng, chàng dẹp bỏ không nghĩ đến nữa, cúi nhìn xuống bàn. Đặt lên trang giấy trắng, tay chàng vẫn còn cầm bút và đầu ngòi bút cách xa nét chữ vừa viết đúng khoảng cách của một chữ. Chàng viết tiếp dòng chữ viết dở dang.

Chín giờ rưỡi tối, trái với thường lệ Phong lên xe đi phố. Đã hơn ba ngày nay, chàng không đi phố nên có nhiều món cần dùng mà không tiện đi mua chàng đã phải tạm nhịn: cà phê, xà phòng cạo râu, đôi bít tất mới, tờ Paris Mach tuần này.

Tiếng máy xe nổ nhè nhẹ, dòn dòn. Ánh đèn xe lóa xuống đường. Đi cùng chiều và ngược chiều với chàng, những chiếc xe đạp cũng rè rè tiếng nút bình điện xe quay. Tiếng rè rè vui vẻ, ánh sáng lóe ra và chạy vút tới, xuyên sâu vào bóng đêm khiến chàng nghĩ đến một đám côn trùng lượn đùa nhau trên một mặt ao đêm mùa hạ. Ban ngày xe cộ để lộ tính chất lạnh lùng của sắt thép, của máy móc, của khoa học cạnh tranh và tàn bạo. Ban đêm, nhất là ở những quãng đường vắng như đường Yersin này mà ánh điện đường bị bóng cây che khuất, những chiếc xe lướt qua không thấy hình dáng mà chỉ thấy ánh đèn vui vẻ và dịu dàng.

Chàng bỏ con đường vắng, rẽ sang đường Độc Lập. Ánh đèn nê-ông sáng trắng làm nổi những tà áo tươi và tăng vẻ tàn tạ cho những màu áo bẩn, sắc da và khuôn mặt cũ kỹ. Chàng nhìn sang hai bên đường. Những hiệu sách, hiệu máy hát, đồng hồ sáng hơn và tươi hơn cả bên cạnh những hiệu bán đồ sắt, bán gạo sầm uất, những hiệu chạp phô tù mù. Từng chặng có những hiệu cửa sắt kéo kín, khung cửa sẫm lại. Chàng dừng xe ở một hiệu sách. Không phải là vì hiệu sách quen mà chỉ vì tiện đường lề xe đậu. Những bản nhạc trình bày đủ màu treo giăng khắp chiếc phòng hẹp. Sách xếp ở ba dãy tủ kính kê sát mặt tường. Những tạp chí khổ lớn nằm trên dãy bàn giữa nhà. Chàng nhìn một lượt mấy tủ sách, đọc lướt qua tên các sách giáo khoa để cảm thấy thấm thía nỗi sung sướng của người lớn đã thoát khỏi cái nợ phải bận bịu trên trang sách học. Chàng bước lại dãy bàn. Những tạp chí ngoại quốc ấn loát mỹ thuật xếp cạnh những quyển tiểu thuyết bìa mang nhiều hình vẽ quái đản. Sau một hồi xem xét, chàng nhón lấy hai tạp chí thường kỳ chàng vẫn đọc, bước lại quầy hàng. Một người đàn ông ngồi thu ngân.

Phong ngạc nhiên, hơi khó chịu một chút khi nhìn đôi vai vạm vỡ, một cái sơ mi để hở cổ và một khuôn mặt dèn dẹt. Thường ngồi nơi đây là một người đàn bà trẻ tóc uốn cao vẻ mặt hao hao như một cô đào chiếu bóng nào đó mà chàng không nhớ tên. Mỗi lần lại trả tiền chàng thấy vui vui. Quả tình một cô thu ngân đẹp an ủi được đôi phần nỗi xót xa của người sắp mất tiền. Nhất là những khi vào hiệu thuốc Tây giá tiền thuốc có lúc cao gấp ba, gấp bốn giá tiền dự đoán. Vừa lo lắng cho sức khỏe vừa đau xót cho túi tiền không biết sẽ còn hao bao nhiêu nữa, vậy mà gặp một cô thu ngân xấu xí hay thô lỗ thì thật dễ bực mình. Người đàn ông này chắc là chủ hiệu, là chồng của người đàn bà đẹp vắng mặt. Anh ta chậm chạp cầm lấy hai tạp chí của chàng đưa, lật sau lưng nhìn giá tiền, rút tờ giấy bọc màu xanh lặng lẽ bọc lại, lấy một vòng cao su vòng quanh. Tiếp theo đó anh lấy bút chì "nguyên tử" làm con tính cộng. Sự chậm chạp làm tia mắt Phong nhìn anh ta nghiêm khắc lại. Tuy không nhìn xuống bài tính của anh ta làm nhưng chàng không quên làm con tính cộng trong óc: 38 đồng. Chàng đưa tờ giấy trăm. Anh hàng sách cầm lấy, bỏ cẩn thận vào một hộp đựng toàn giấy trăm rồi anh lấy tiền trả lại. Anh lấy một tờ giấy 50 đồng ở hộp đựng toàn giấy 50, lấy 2 đồng lẻ ở hộp tiền lẻ. Sang hộp giấy 10 đồng, Phong thấy anh lục lọi mãi một hồi. Không biết ý anh định tìm gì trong khi hộp đầy ắp những tờ giấy 10 đồng màu nhạt. Lục lọi một lát, anh chàng lấy ra hai tờ giấy 10 đồng đen đỉu nhầu nát chập với tờ 50 và hai tờ một, đưa cho Phong. Chàng giơ tay cầm lấy, đứng tần ngần. Chàng vò tiền nắm trong tay không đếm nhưng biết chắc là 72 đồng. Sao lại đến 72 đồng? 62 đồng mới phải chớ? Trong óc chàng vụt chạy nhanh như một luồng điện, ý nghĩ "Hoạnh tài". Chàng đưa mắt nhìn sang anh hàng sách. Khuôn mặt vuông và cái hàm hơi bạnh ra. Miệng rộng, môi dưới mỏng, dài hơn môi trên nên uốn cong lại. Cái môi này chàng đã gặp ở đâu một lần rồi, cái môi này đã làm chàng khó chịu ở một nơi nào rồi. Chàng cầm tiền đứng dịch lại dãy bàn bày báo hàng ngày vờ nhìn xuống đọc nhưng trí óc đuổi bắt hình bóng của cái môi cong. Cái môi... Khuôn mặt mai mái... Cái hàm bạnh... Cái môi... Chàng đẩy lui khuôn mặt ấy lần về dĩ vãng. Hôm qua? Tuần trước? Tháng trước? Chàng soát lại ký ức, tìm xem cái môi ấy của ai, chàng gặp nơi nào. Tháng trước? Tháng trước?

Chàng vụt nhớ ra rồi. Một khuôn mặt hiện ra, rõ ràng. Đúng là môi cong đó. Cũng cái hàm bạnh. Hai con mắt giảo hoạt. Một mái tóc mềm nằm an phận, vâng lời. Khuôn mặt này làm chàng khó chịu. Chàng đẩy lui ký ức vào xa hơn trong dĩ vãng để thay khuôn mặt kia bằng một khuôn mặt khác. Một mái tóc uốn cong. Đôi má trắng hồng bầu bĩnh. Đôi môi nhỏ thoa son nhạt. Tà áo phất phơ và gót chân uyển chuyển. Mùi nước hoa Tabou. Tâm hồn chàng dừng lại mơn trớn cái hình ảnh đẹp kia, đồng thời cái khung cảnh gặp gỡ cũng như trải rộng ra trước mắt chàng. Đó là khung cảnh của thành phố Quảng Ngãi.

Chừng một tháng trước đây chàng nhận được giấy đi chấm thi ở Quảng Ngãi. Địa điểm này làm chàng thất vọng. Sao không đi Huế hay Đà Lạt mà lại về cái tỉnh nhỏ này? Đi bằng xe lửa thì đoạn đường có nhiều trở ngại mà đi bằng máy bay thì Quảng Ngãi không có phi trường. Hội đồng giám thị ở Trung tâm Quảng Ngãi do đó mà nhận được không biết bao nhiêu những đơn xin vắng mặt kèm theo giấy chứng của Bác sĩ. Thành phố Quảng Ngãi bé quá chỉ có hai con đường buôn bán. Cứ cách chừng năm mươi thước là có một nhà sản xuất kẹo gương mạch nha, đường phổi. Đó là ba món hàng thổ sản. Đặc điểm những thành phố nhỏ là có những sản phẩm đặc biệt của địa phương. Đô thị lớn thường không có bản sắc đặc biệt về mặt sản xuất, ở đây cũng là nhà máy sợi, nhà máy cửa, nhà máy sản xuất dụng cụ. Quảng Ngãi chỉ có một rạp hát nhỏ mà cũng không đủ người xem. Người đi phố mua sắm, mặc cả, chọn lựa một cách cần mẫn chí thú. Thiếu hẳn những người thừa lương đi tản bộ.

Sáng hôm thi Phong nhìn lên hai tấm bảng đen ghi tên các vị giám thị. Có từng mươi tên cô giáo mang nhiều tên hoa, tên chim mỹ miều. Khi người thư ký Hội đồng cầm phấn lại bảng ghi tên phòng trước mặt mỗi tên giám thị, chàng đọc được sự hồi hộp lý thú ở những người ngồi cạnh mình. Sự tò mò của các cô giáo biểu lộ dễ thấy hơn vì họ đứng cạnh nhau nên vừa chỉ chỏ vừa thảo luận nho nhỏ. Các giám thị đàn ông tỏ vẻ lãnh đạm hơn, nhưng đó là một vẻ lãnh đạm cố tạo ra. Vì có một trò rủi may đang diễn ra trên bảng đen kia. Mình sẽ giám thị với ai sáng nay? Chiều nay? Mình sẽ giám thị phòng nào sáng nay? Chiều nay? Từ phòng 1 đến phòng 7 là phòng nữ sinh. Giám thị giờ thi Toán, thi Lý hóa mà được nhằm vào phòng nữ sinh thì đỡ nhọc vì nữ sinh không bạo dạn như nam sinh. Giám thị với một cô giáo bao giờ cũng vẫn thú hơn. Chàng không có ẩn ý gì hết. Người đàn bà đẹp như một bông hoa, ở gần họ như được ngồi trước một bông hoa đẹp, thế thôi. Nhưng sáng hôm đó, cùng nhận phòng 15 với mình là một cái tên đàn ông. Phong lại ôm xấp giấy thi đi thẳng đến phòng mình. Chàng không lưu tâm xem người đàn ông cùng đến với mình là ai. Người đàn ông nào cũng giống nhau. Để bù lại buổi sáng, buổi chiều chàng giám thị với một cô. Cái tên đẹp và vẻ người thua cái tên một chút. Cô làm đầy đủ, nghiêm trang những công việc mà chàng giao cho: phát giấy thi, phát giấy nháp, so phiếu thí sinh và thẻ căn cước để nhận diện. Cô rầy những thí sinh nói chuyện, thu gọn những tờ giấy nháp thí sinh cố ý bày bừa bãi để người bên cạnh liếc xem, kéo về vị trí cũ những thí sinh ngồi sát vào nhau để hỏi bài. Đúng là một cô giáo quen nghề và đã có chồng con. Sáng hôm chàng lại giám thị với một cô. Lần này là một cô giáo quá trẻ, đôi má trắng hồng bầu bĩnh. Chừng như nàng mới ra trường một hay hai năm. Đôi môi nhỏ thoa son nhạt. Mái tóc uốn cao, cắt ngắn hợp thời trang. Tự nhiên chàng nghĩ rằng cô giáo không sung sướng ở cái tỉnh nhỏ này. Nhìn sang tên cô viết và ký ở tờ bìa đựng bài thi chàng đọc: "Lê Thị Hoàng Yến". Chàng hỏi:

- Cô Hoàng Yến dạy ở trường gần đây?

- Vâng ạ. Em dạy ở trường Nữ tiểu học.

Không phải là giọng Huế như chàng thường gặp ở các cô giáo miền Trung mà là giọng Bắc.

- Cô ra trường đã lâu chưa?

- Dạ, em dạy được ba năm.

Vài thí sinh lợi dụng tình thế bắt đầu rì rào trao đổi ý kiến khiến chàng phải đi xuống góc phòng. Viên giám thị hành lang đi đi lại lại.

- Thành phố Quảng Ngãi nhỏ quá và tẻ quá chắc không phù hợp với tuổi trẻ của cô.

Chàng nói nhưng vẫn đưa mắt nhìn xuống lớp.

- Vâng ạ. Quảng Ngãi buồn lắm nên ba em đã xin đổi về Sài Gòn. Nhưng còn phải đợi bán nhà đã.

- Nhà to lắm?

- Dạ, không to lắm. Trước đây có người trả mười hai vạn. Nhưng nay vì tình hình mà họ trả sụt đi.

Vài ngón tay giơ lên xin thêm giấy thi, nàng cầm giấy đem xuống phát cho họ. Phong nhìn đôi vai tròn, hàng orlon mỏng màu hoa bèo uốn theo thân hình. Gót chân đi thoăn thoắt nhanh nhẹn. Khi nàng trở lại bàn, chàng giao cho việc lập bản danh sách những thí sinh nộp bài. Chàng nói:

- Khi thí sinh nộp bài, cô nhớ xem bài thi có ghi số ký danh không. Nhận bài xong cô bắt họ ký và cô mới giao trả thẻ thí sinh cho họ. Coi chừng kẻo họ chưa nộp bài mà đã ra khỏi phòng. Mất bài là nguy lắm. Cô sẽ được đổi đi, không phải về Sài Gòn như ba cô xin mà về Kontum hay Pleiku đó.

Nàng mỉm cười:

- Ông cũng vậy.

- Đâu có được "cũng vậy"? Khổ nhất là tôi sẽ phải đi Côn Sơn hay Quảng Đức.

Một vài thí sinh lác đác nộp bài. Khi tiếng trống báo hiệu mãn giờ thi cả hai túi bụi vừa thu bài vừa bắt ký vừa tìm thẻ thí sinh để trả lại vừa trông chừng ra cửa kẻo có thí sinh bỏ phòng ra đi. Khi công việc đã yên ổn, khi tất cả thí sinh đã ra khỏi phòng rồi, khi kiểm lại số bài thi thấy đủ, chàng bảo:

- Thế là trót lọt buổi sáng nay. Cô có thể thở ra được rồi.

Trong khi xếp lại bài thi theo thứ tự chàng hỏi:

- Cô dạy lớp Nhất phải không?

- Thưa ông không. Em dạy lớp Ba.

- Sao ít vậy?

- Em có con nhỏ, bà hiệu trưởng cho dạy lớp nhỏ để đỡ nhọc.

Phong quay lại nhìn nàng. Có con nhỏ? Đã có chồng rồi sao? Có chồng? Loáng trong một giây, từ một hình ảnh thiếu nữ mỹ miều, chàng thấy nàng chợt biến thành một thiếu phụ cam chịu.

- Chồng cô làm gì?

- Chồng em buôn bán

- Người Bắc?

- Thưa không. Anh ấy người Huế.

- Sao cô không lấy chồng người Bắc cho gần gũi?

- Thưa ông, khi đã yêu nhau thì...

Phong không muốn nghe tiếng "yêu nhau" thoát từ đôi môi kia. Giá nàng nói "bị bắt buộc phải..." thì chàng sẽ thấy dễ chịu trong lòng hơn. Để giữ vẻ thản nhiên, chàng thấy cần phải nói đùa một câu:

- Ở thành phố nhỏ người ta mau lấy chồng. Vì không có một món tiêu khiển nào có thể bận rộn tâm trí họ được. Ở thành phố nhỏ gia đình nào cũng đông con. Người ta không dùng thì giờ để la cà ở rạp hát, ở phòng trà mà họ chỉ biết tìm thú vui trong gia đình. Có lẽ đây là một định lý: "Khi đóng cửa một giải trí trường thì người ta sẽ mở thêm được một nhà hộ sinh".

Hoàng Yến mỉm cười:

- Đó là khẩu hiệu hiện nay. Nhưng ở đây cũng còn bao nhiêu cô giáo chưa chồng.

- Chắc vì họ không đẹp bằng cô.

- Không chắc.

- Nhưng có điều này chắc: là những cô giáo chưa chồng bị hai sự thiệt thòi. Chưa chồng là sự thiệt thứ nhất và là thiệt thòi quan trọng. Thứ hai là phải dạy những lớp Nhất nhọc nhằn... Xin lỗi, chồng cô buôn bán gì?

- Nhà em mở tiệm dự trữ thuốc Âu Mỹ.

- Ở đường Phan Bội Châu?

- Thưa ông không. Ở đường Lê Trung Định

Chiều hôm sau khi các môn thi nhiệm ý: vẽ, nữ công, âm nhạc đã thi xong, có cuộc họp kiểm thảo của Hội đồng giám thị. Trên đường đi đến hội nghị chàng gặp Hoàng Yến cùng đi với một người đàn ông. Gặp nhau quá bất ngờ, chạm sát mặt nhau ở một lề đường hẹp, cả hai bên phải đứng dừng lại để chực tránh nhau. Hoàng Yến lúng túng chào chàng và phải giới thiệu người đàn ông đi với mình:

- Xin giới thiệu với ông: nhà tôi

Rồi quay sang chồng:

- Ông Phong giám thị cùng trung tâm với em.

Chàng giơ tay bắt và nhìn kỹ vào mặt người chồng khó chịu vừa thích thú vì anh không xứng với vẻ đẹp của người vợ. Một mái tóc mềm nằm rẽ hai, tuân theo một đường rẽ quá thẳng. Đôi con mắt ranh mãnh đi với cái hàm bạnh, nhiều mưu cơ và có thể tàn bạo. Cái miệng rộng. Môi dưới mỏng và dài hơn môi trên khiến có đoạn phải cong lại mới đủ chỗ. Chàng đưa mắt nhìn sang Hoàng Yến. Vẫn đôi má hồng phúng phính ngây thơ. Chàng có cảm tưởng hơi đau xót như khi nhìn một con cừu non bị vuốt sắt của một con ó hung tợn đe dọa. "Khi yêu nhau thì...", chàng nhớ lại lời nàng. Sao con cừu kia lại yêu con ó kia được nhỉ? Họ có một đứa con. Lát nữa hai người sẽ cùng nhau châu đầu trên cái nôi hay cùng chuyền tay cho nhau đứa bé mũm mĩm.

Phong thấy bực mình vẩn vơ. Suốt buổi hội nghị chàng chỉ im lặng không nói. Lúc ở nhà ra đi chàng đã chuẩn bị những ý kiến để phê bình cách tổ chức phòng thi, công việc giám thị, công việc chủ khảo... nhưng bây giờ tự nhiên chàng thấy chán không thích nói nữa. Sáng hôm sau, khi xách vali lên tàu vào Qui Nhơn, chàng giã từ không luyến tiếc cái ám ảnh không vui kia.

Hôm nay bất ngờ chàng gặp lại cái môi mỏng dài và cong vêu. Đôi mắt ranh mãnh. Mái tóc dẹt. Sự bực mình kéo nhanh đến làm chàng cơ hồ nghẹt thở. Chàng thấy khó chịu một lần thứ hai về cái khuôn mặt sung sướng không xứng đáng đó. Anh chàng này lại cũng có một người vợ đẹp và thùy mị. Vô lý. Anh chàng này lại bủn xỉn và thất lễ với mình. Chàng nhớ lại lúc nãy anh ta đã lục lọi mãi tìm cho ra 2 tờ giấy bạc bẩn để đưa cho mình. Trên mặt hộp tiền, kìa những tờ giấy mười đồng sạch sẽ, màu trắng và màu hồng minh bạch, bạc mới giấy láng dày cộm nằm xếp chồng chất thế kia. Sao anh ta thô bỉ một cách trắng trợn vậy? Sao anh ta dám coi thường mình, dám ngang nhiên chọn giấy bạc bẩn dành cho mình, chọn trước mũi mình? Anh ta đáng bị mắng. Mất 10 đồng còn quá nhẹ đối với tội vô lễ. Nhân quả cũng rõ ràng ra đó. Đầu óc bủn xỉn suy tính về những tờ giấy bạc mới cũ mà hóa ra tính lẫn tính lộn, cái lợi không thấy đâu mà cái lỗ đã rõ ràng. Nhưng dù nghĩ vậy, chàng cũng mong rằng anh ta chợt tỉnh lại để thấy rằng mình tính lầm 10 đồng và anh ta đến xin lại. Chàng sẽ rất tự nhiên mở nắm tay ra bỏ đống bạc lên bàn cho anh ta tự đếm lấy. Không đếm tiền thối lại là một cử chỉ lịch sự, vậy tiền thối dư hay thiếu không thuộc trách nhiệm của chàng. Nhưng đưa mắt tìm anh hàng sách thì thấy anh đã rời bỏ quầy hàng đi sang đứng cạnh hai thiếu nữ vừa đến. Hai màu áo hồng và hai khuôn mặt xinh xắn. Cạnh đó, cái môi dưới của anh ta cong lại một cách kệch cỡm. Hai con mắt láu lỉnh rình rập. Tất cả khuôn mặt như bị căng ra, đẩy vươn tới, chuẩn bị để vồ vào câu chuyện của hai cô kia.

Tất cả đều bất lợi cho anh ta. Phong chầm chậm bước ra cửa. Mười đồng cầm dư trong tay như gào lên "Trả lại cho anh ta đi. Của phi nghĩa. Danh dự...". Chàng phải đứng dừng lại trước một tấm quảng cáo lớn rao tên một tờ nguyệt san sắp ra đời. Vừa lơ đãng đọc những chủ trương nghệ thuật, mục đích xã hội của tờ báo, chàng vừa tự nhủ:

- Hay đem tiền vào trả cho anh ta! Nhưng mà... Trễ quá. Chẳng lẽ bây giờ.. Đáng lẽ lúc nãy...

Trong khi suy nghĩ, óc chàng nhớ cẩn thận đến câu tiên tri đọc hồi sáng "buổi chiều có hoạnh tài". Chàng suýt kêu lên: "Lần đầu tiên Tử vi nói đúng". Hoạnh tài là đây chứ gì? Vì lần nào cũng vậy, dù người ta đưa dư tiền nhiều hay ít chàng cũng đều trả lại. Có lần về đến nhà đếm lại mới thấy mình cầm dư tiền, phải lục đục đi trở lại để trả cho người ta. Nay sao tự nhiên chàng lại vò nắm trong tay? Cái gì xui vậy? Ưở, sao ngồi ở quầy hàng lại không phải là người vợ dịu dàng của anh hàng sách? Sao vẻ mặt anh ta lại gợi chi đến một kỷ niệm khó chịu mà mình chưa hoàn toàn quên? Sao anh ta bủn xỉn thô bỉ đến mức là chọn những tờ giấy bạc mới cũ? Đó là lòng ham mê chỉ xứng đáng với những đứa trẻ, với những bà cụ nhà quê lẩn thẩn. Sao anh ta lại vô lễ với chàng? Cho 10 đồng thì có giá trị gì đâu? 10 đồng có nghĩa lý gì cạnh vài trăm bạc chàng trả cho hàng rượu khi vui chân vào ngồi với một hai người bạn. 10 đồng có nghĩa gì cạnh một vé hát chàng đôi lúc mua mà thực tình không muốn đi xem. 10 đồng, đó chỉ là giá của một quả cam nhiều khi chua quá chàng bỏ không ăn. Phải, không ai dám tin rằng chàng tham 10 đồng của anh hàng sách, và sự thật quả là chàng không thèm tham lam thật. Có lẽ đó là "hoạnh tài" nó tự nhiên đến, bắt buộc đến theo cái luật huyền bí của nó mà mình không được biết chăng? Chớ một anh hàng sách bỏ vốn ra hàng bốn, năm chục vạn đồng sao điên rồ gì mà suy tính ham mê chi những tờ giấy bạc mới cũ để đến nỗi hóa ra lẩn thẩn tính cộng có hai con số mà đã tính sai?

Phong thấy lòng mình bớt băn khoăn một chút. Tiếng nói của Luân lý đã bớt phần gay gắt. Tuy vậy chàng vẫn còn áy náy. Trong khi đó thì chân chàng đã bước dần đến chiếc xe ghếch ở lề đường. Để dẹp hẳn sự áy náy, chàng nghĩ tiếp:

- Ta đem mười đồng này về cho thằng con nhỏ của anh coi vườn. Nó sẽ mừng lắm. Mấy hôm nay nó những ước ao đi xem phim Ấn Độ. Nó nghèo lại tàn tật. Nó cần mười đồng đó hơn là anh hàng sách vô duyên kia. Vả lại anh ta đáng bị phạt về tội vô lễ, tội bủn xỉn.

Phong thấy tâm hồn mình đã gần thanh thản. Trước khi nổ máy xe, chàng nhìn xuống đồng hồ tay.

- Mười giờ rưỡi đêm.

Cái ngày hôm nay có thể được coi như đã kết thúc vào giờ này. Những băn khoăn của lương tâm qua đi, chàng thấy lòng lâng lâng một niềm thích thú nhỏ: chàng đã muốn và đã giúp được cho Tử vi nói đúng một lần.

(Trích từ tập truyện ngắn Con Suối Mùa Xuân)